|
BÀI KÝ NÚI PHẤP PHỎNG
Ở cái làng quê cái gì cũng hạng bét, đất đai hạng bét, núi sông hạng bét, lại nổi lên một áng văn chương, bài ký núi Phấp Phỏng của ông Cử Doãn, kẻ thích tô hồng cuộc sống tất sẽ cho đó là văn chương hạng bét vì chỉ mang lại cho con người ta cảm tưởng chẳng bình yên.
Làng Cù. Đấy là tên của làng. Có người nói Cù là tên con vật thời hồng hoang, đương yên ngủ, bỗng trở mình quậy phá vùng đất này, Cù dậy. Có người nói Cù là ông Cù, ông tổ lập đất lập làng. Có người nói Cù là kiểu gọi nhân hóa một trận động đất nào đó đã từng xảy ra ở đây. Cái tên làng cắt nghĩa sao cũng được, nên cũng dễ xếp vào hạng bét. Nhưng đấy lại là nơi tôi hết mực yêu quí, bỡi là vì nơi chôn nhau cắt rốn của tôi.
Thì cũng có con sông chảy qua làng, sông Cạn, chứ không phải là không. Nhưng dường trời sinh ra con sông này là để cho cảnh trí phong phú, chứ không phải thực sự là sông. Có nghĩa, còn mưa thì sông còn nước, hết mưa thì sông hết nước. Cho nên, tiếng có sông chảy qua, nhưng ruộng đồng làng tôi phải ăn nước trời, mãi mãi mỗi năm một vụ, vì địa hình tự nhiên ở đây là không thể làm hồ chứa nước cho việc cày cấy.
Làng cũng có hai ngọn núi, nhỏ và thấp, nằm ở phía đông, tựa hồ lúc tạo núi sông thì trời để rơi vãi ở đây hai cụm đất đá. Đứng ở làng tôi mà nhìn thì thấy ngọn đứng trước cao hơn ngọn đứng sau. Nên người làng tôi gọi ngọn đứng trước là hòn Trồi, ngọn đứng sau là hòn Sụt. Nhưng đứng ở phía bên kia núi mà nhìn, thì thấy ngược lại. Nên những người làng ở phía bên kia núi lại gọi hòn Sụt là hòn Trồi, và gọi hòn Trồi là hòn Sụt.
Phải nói vì yêu mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình, tôi đã tìm đọc nát hết các sách, cổ thư có, tân thư có. Và dĩ nhiên là cuối cùng chẳng thấy có sách nào nói đến đất đai sông núi làng quê tôi. Làm sao thế gian lại có đủ sách vở để chứa cả những thứ hạng bét như thế ! Cũng may, ở trong làng có ông cử Doãn, vị khoa bảng có ý muốn đi tìm nghĩa lý của cuộc đời ở ngay làng quê mình, đã soạn bài ký tả được một phần nào sông núi quê tôi. Bài ký chép bằng chữ Hán. Bản dịch sau đây là dịch theo sát nghĩa.
Hay những người đi trước muốn ký thác lòng mình cho núi chăng? Sao lại là chim nửa đêm? Sao lại là hoa lưu huyết? Ta nay nghe nhắc đến những thứ ấy thì cứ thấy nôn nao, tựa hồ như mình là kẻ trong cuộc.Lên năm ta đã thuộc được sự tích về chim và hoa của núi. Vào một sớm tinh mơ, muốn gần hụt hơi ta mới bước kịp cha ta. Phải lên núi cho kịp xem hoa lưu huyết nở. Sự tích nói hoa lưu huyết chỉ nở vào sớm tinh mơ, lúc nở thì xòe ra những cánh hoa màu máu, chỉ trong tức khắc, rồi tàn. Tất nhiên là sáng hôm ấy, khi lên đến đỉnh núi, cha ta chỉ cầm lấy trong tay những cánh hoa đã tàn để giảng cho ta nghe, rằng cũng chỉ nghe sự tích nói thế, chứ xưa nay chưa có ai trông thấy hoa lưu huyết nở. Ta hỏi cớ sao lại chẳng ai trông thấy? Cha ta bảo khi ta đã thành người lớn tất sẽ hiểu. Nửa khuya mà nghe chim nửa đêm kêu, thì sáng hôm sau tất có hoa lưu huyết nở. Sự tích cũng nói thế. Cho nên, nửa khua mà nghe chim nửa đêm kêu, thì sáng hôm sau thế nào cũng có người trong làng lên núi để xem hoa lưu huyết nở. Sở dĩ gọi là chim nửa đêm vì chưa ai biết mặt loài chim ấy, chỉ nghe tiếng kêu của chim vào khoảng giữa đêm, nên gọi là chim nửa đêm vậy thôi. Chờ ai đứt ruột. Đấy là cách dịch tiếng chim ra tiếng người. Mà quả là con chim nửa đêm kêu nghe buồn thật. Sao nửa khuya nghe chim nửa đêm kêu thì sáng hôm sau có hoa lưu huyết nở? Ta thì không nhìn thấy mối liên quan nhân quả giữa hai thứ ấy, mà cảm thấy dường như đấy chỉ là hai cách diễn tả về mỗi một sự vật mà thôi. Nhưng bạn ta là ông nghè Lê lại trưng ra sự tích. Phía bên kia núi là cõi chết. Mỗi lần cái đất nước ở bên kia xua quân sang thì đám đàn ông con trai bên này núi lại bị bắt đi. Đã bị bắt đi là không có ngày về. Nhưng những người ở lại thì vẫn lên núi trông chờ trong nỗi phấp phỏng. Lịch sử như là sự nối tiếp của các cuộc xâm lấn và các cuộc phấp phỏng trông chờ. Có người con gái lên núi chờ người yêu của mình suốt bao nhiêu năm. Cho đến đêm đó thì đứt ruột chết. Máu nàng thấm vào đất, mọc lên cây hoa lưu huyết. Còn hồn nàng thì hóa làm chim nửa đêm. Ông nghè Lê dừng ở đó. Ta hỏi sao lại kể thiếu đi cái câu kết, rằng sau đó thì hòn Trồi hòn Sụt còn được gọi là núi Phấp Phỏng. Bạn ta chỉ cười. Ta bảo cách cắt nghĩa đó của người đời thì cũng cũ như chim nửa đêm với hoa lưu huyết. Bạn ta nói cuộc phiêu lưu lớn nhất của con người là muốn cắt nghĩa lại quá khứ, bỡi con người là luôn mong mỏi cái khác với cái hiện là, luôn mong mỏi được cập vào một bờ khác.
Ta đi chơi núi Trồi núi Sụt vào một ngày mùa thu. Chọn đi vào một ngày mùa thu là có ý để cho sự hứng thú của mình có chút hơi hướng của tàn rữa. Thì chẳng phải núi đã mang sẵn trong mình thứ sử thi tàn rữa hay sao? Đừng sợ. Kẻ nào không nhận ra sự tàn rữa thì kẻ ấy khó giữ được sự sống cho mình. Biết là chẳng thể trông thấy hoa lưu huyết nở, song ta vẫn cứ nghe bồn chồn lo lắng trong lòng. Thì đang leo lên cái phấp phỏng, làm sao không phấp phỏng? Khi lên tới đỉnh hòn Trồi, ta quên khuấy chuyện xem hoa lưu huyết nở, vì mắc đuổi theo chuyện cái bờ bến khác là ở đâu. Bấy giờ thì mặt trời đã lên cao. Nơi đỉnh hòn Trồi có lắm loài hoa dại đang tàn. Nhưng bấy giờ thì ta chẳng chủ ý đến đám hoa tàn, vì đang dõi mắt coi thử bên dưới bầu trời mùa thu có thứ hơi hướng tàn rữa ấy, nơi đâu là cái bờ khác ấy? Và ta như vẫn còn y nguyên niềm phấp phỏng là có nhận ra chốn ấy không, khi đã sang đứng ở nơi đỉnh hòn Sụt để tiếp tục nhìn ngóng đất trời.
Bạn ta là ông nghè Lê hỏi ta đi chơi núi Trồi núi Sụt có nhìn thấy hoa lưu huyết không, có nhìn thấy loài chim nửa đêm không? Ta đáp là đã nhìn thấy y như trong lòng ta đã thấy. Bạn ta hỏi là thấy thế nào? Ta đáp là đã nhìn thấy một nỗi khao khát. Lại hỏi, khao khát thế nào? Ta đáp, khao khát như chim nửa đêm đã kêu thì phải kêu cho đến đứt ruột, như hoa lưu huyết đã nở thì phải thắm đỏ một màu máu. Lại hỏi, như thế có nghĩa là sao? Đáp, như thế thì gọi là ký thác.
Chép đến đây, đọc lại, chợt nghĩ đến lời người thầy cũ là chuyện lập ý trong văn chương cũng khó như chuyện lập quốc, nên ta chỉ biết thở dài.
Bấy giờ triều đình nhà Nguyễn ở Huế đã ký hòa ước Patenôtre, tức Việt Nam chính thức thuộc Pháp. Và vua Hàm Nghi đã ban hịch Cần Vương kêu gọi quốc dân chống sự đô hộ của Pháp. Tôi thì trước sau vẫn nghĩ bài ký của ông Cử Doãn ẩn chứa niềm khao khát của nhân gian. Nhưng vua tôi triều đình Huế lại cho là văn chương chống đương triều, nên ông mới bị bắt giải về kinh. Người làng tôi bấy giờ ai cũng phấp phỏng lo cho số phận của ông Doãn. Nhưng cuối cùng người ta cũng đem chém ông ở trên núi Phấp Phỏng.
oO_Oo
CON ĐƯỜNG CỦA RƯỢU
“Qua nói với mấy em là nói theo ý riêng của qua. Cho nên có nghe lọt tai hay không là việc của mấy em”
Khi trò chuyện với những người đến chuyện trò với mình, bao giờ ông Trần cũng giữ sự khiêm tốn đúng mực của kẻ theo Lý học.
Lý học nói ở đây là môn phái triết học thuộc thời Tống (960-1279) ở Trung Quốc.
Khổng học của nước Trung Quốc cổ tồn tại đến thời này thì đổi hướng : Không còn dừng lại ở việc bàn luận về mối quan hệ giữa con người với con người như đã làm trong hơn nghìn năm qua, mà vươn đến các lĩnh vực siêu hình : Vũ trụ từ đâu mà có? Con người do đâu mà có? …
Trương Tái (1020-1077) đề xướng Khí học
Chu Đôn Di (1017-1073) đề xướng Lý học , được các học trò là Trình Hạo (1032-1085) , Trình Di (1033-1107) tiếp tục phát triển. Nhưng phải đến Chu Hi (1130-1200), học trò bốn đời của Trình Di, thì Lý học mới đạt đến đỉnh cao. Chu cho rằng Lý là cái Đạo, là gốc của mọi sự vật. Người ta bảo triết học của Trình-Chu là Khổng học mới, giống như triết học của Thomas Aquinas bên Châu Aâu là Plato mới.
Thời Tống bên Trung Quốc thì ngang với thời Lý ở Việt Nam.
Lý học truyền sang Việt Nam bằng cách nào và vào lúc nào, thì người viết chuyện này không đủ trình độ để dò ra. Chỉ biết là ở làng Bàu Đá, cách thành Đồ Bàn cũ chừng hơn mươi cây số về phía tây nam, có một dòng họ đã mấy chục đời theo Lý học.
“Dòng họ nhà qua mấy chục đời nay coi việc chưng cất rượu là cách hành đạo. Ngồi nghe cách cơm rượu sôi ở trong vò mà sửa lại ngọn lửa bếp sao cho hợp với việc chuyển vận trong ống hơi và trong bầu hơi của đám khí nước. Mà muốn sửa ngọn lửa bếp thì đâu phải một sớm một chiều là làm được”
Ông Trần nói về cái khó trong việc đun cơm rượu. Cho đến lúc này thì ông đã ngót nghét chín mươi. Nên hầu hết những người hằng ngày đến trò chuyện cùng ông đều thuộc hàng đàn em hoặc hàng con cháu.
Để hiểu được cái Lý của trời đất, Trình-Chu chủ trương tu tâm dưỡng tánh. Tức hành đạo bằng tự tu dưỡng. Nhưng sang tới làng Bàu Đá thì Lý học đã được đổi mới : Dòng họ ông Trần hành đạo bằng cách ngồi chưng cất rượu.
“Qua chỉ tỉ dụ thôi. Ngọn lửa bếp đột nhiên mà to lên thì cơm rượu trong vò nóng lên, đám khí nước đột nhiên thay đổi mực chuyển vận mà sinh ra ứ trệ, trong phép chưng cất gọi là khê, tức sinh mùi vị không tốt so với mùi vị trước đấy. Còn như ngọn lửa bếp đột nhiên mà nhỏ đi, thì đám khí nước sinh ra sự thiếu hụt, trong phép chưng cất gọi là nhạt, tức mùi vị cũng không bằng mùi vị đương có…
Ông Trần nói về những hậu quả khó lường trong việc thay đổi ngọn lửa bếp trong chưng cất rượu.
Có mấy vị tiến sĩ ngành dân tộc học và khảo cổ học, người Nam Bộ, vừa đỗ đạt xong thì rủ nhau làm chuyến điền dã đến làng Bàu Đá, cốt là để xả hơi sau những năm tháng kinh sử vất vả, nhưng đồng thời cũng để cho biết miền đất đã sản sinh ra thứ rượu gạo đang được bày bán nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, và hình như có nhiều nhà kinh doanh muốn xuất đi các nước trên thế giới. Lúc đến nơi bọn họ mới biết là mình đã gặp được một người theo Lý học.
“Uống rượu đây là qua thay mặt cho nh?ng người dân quê ở đây để uống với mấy em. Còn như nói về rượu thì qua có thể nói cho mấy em nghe mấy ngày mấy đêm cũng được”
Trong khi hành đạo ông Trần đã ngộ được cái phóng dật Nam Bộ mà ông không hay. Nên giờ nói ra điều mình nghĩ, thì lập tức cái đạo cốt của ông khiến cho mấy vị tiến sĩ trẻ dân Nam Bộ như bị ông hớp mất hồn. Có nghĩa, sau khi uống xong chén rượu khách thì các vị ấy lặng lẽ xếp bằng trên nền nhà, ngay cạnh lò chưng cất rượu, nơi ông Trần đang làm công việc chưng cất, mà lắng nghe ông giảng về rượu.
“ Dòng họ nhà qua tuy theo Khổng học, nhưng đạo Khổng tới thời Tống bên Tàu thì không còn giống với đạo Khổng thời Khổng tử, Khổng học đã biến thành Lý học, rồi khi Lý học đến với dòng họ nhà qua thì không còn giống với Lý học thời Tống. Bỡi cách hành đạo của dòng họ nhà qua thì khác với cách hành đạo ở bên Tàu..
Con đường đi của rượu đối với dòng họ nhà qua cũng là con đường hành đạo. Con đường của rượu khởi đầu bằng ngọn lửa tự sinh, trong phép chưng cất gọi là sự lên men, và kết thúc cũng bằng lửa tự sinh, hay còn gọi là độ nồng của rượu. Chính ngọn lửa này làm cho người ta ngất ngây, gọi là say, trong khi uống rượu.
Mà lửa tự sinh hay lửa đun lò bếp đều là của trời đất. Nên phải thấu cái lý của trời đất mới điều động được lửa ở trong lò bếp. Nhưng thấu cái lý của trời đất là sao, thì chẳng thể diễn bằng lời. Cho nên trong việc chưng cất rượu không phải nghe, nhìn bằng tai bằng mắt, mà bằng ý nghĩ. Ý nghĩ mà trong sáng thì đường đi của rượu tất thông suốt. Ý nghĩ mà vẩn đục thì đường đi của rượu sẽ ứ trệ, hoặc thiếu hụt, những giọt nước thành phẩm, tức là rượu, tất sẽ khê, nhạt.
Cứ thế, ngày này sang ngày khác, qua cứ ngồi vào nơi chưng cất, lòng chỉ nghĩ đến con đường đi của rượu.
Cho đến hôm qua nếm thử những giọt nước thành phẩm nghe thơm mùi thơm thánh thiện, thì biết là mình đã ngộ được cái lý của trời đất”
Có một vị trong mấy vị tiến sĩ trẻ ấy muốn làm một công trình nghiên cứu về rượu Bàu Đá trong nền lý học mà dòng họ ông Trần đeo đuổi trong bao nhiêu thế hệ . Anh ta đã trở lại làng Bàu Đá để lấy tư liệu. Nhưng ông Trần thì vừa mới chết trước đó mấy hôm.
Người viết chuyện này có cái duyên may là đã được trò chuyện cùng ông Trần trước khi ông chết cũng chỉ có mấy hôm.
"Mà đây cũng chỉ là ý riêng của qua, khi bảo rằng con đường của rươụ là cuộc chuyển hóa tế vi của sự vật"
"Thế khi nhìn thấy được con đường đi của rượu, tức thấy được từ cái cứng hóa làm cái mềm, thì cũng sẽ nhìn thấy được con đường của nhân sinh"
"Đấy lại là ý của riêng em. Còn qua thì chỉ thấy thế này. Lửa là thứ cốt tử trong mọi sự vật. Nó mà xê xích, gia giảm một chút, thì trong chưng cất rượu sẽ sinh khê nhạt, còn trong cuộc nhân sinh rất có thể là làm cho huy hoàng lộng lẫy thành ra điêu tàn"
oO_Oo
THỬ ĐỀ XUẤT VỚI TRẦN GIAN
Loài người là phải đi tới, chứ không thể đi chà lui. Còn đi tới đâu, hay tới chỗ nào, thì còn phải chờ. Đó là lời ông nói với người làng. Và cái tôn giáo ông đang đeo đuổi là để góp phần vào việc giúp cho con người không còn đi chà lui.
Giáo chủ là ông, mà tín đồ cũng là ông. Có nghĩa, tôn giáo do ông sáng lập mới chỉ có mỗi một người theo. Đạo là còn trong lúc thể nghiệm, nên cả vợ con ở trong nhà cũng chưa ai được theo. Đó là lời bà vợ ông nói với người làng.
Tuổi của tôn giáo ông là tính từ ngày tấm biển mang dòng chữ NHÀ HÀNH ĐẠO được treo lên ở ngưỡng cửa nhà trên, tức gian nhà thờ ông bà trong ngôi nhà xây bằng gạch có cả thảy ba gian. Đạo của ta không thờ phụng ai khác hơn là tổ tiên ông bà. Ông nói. Hoá ra tôn giáo ông là thuộc loại không thờ ngẫu tượng (Trên bàn thờ ông bà có hình hai cụ thân sinh ông. Nhưng đấy là ảnh, chứ không phải là tượng). Cách hành đạo của ông quả chẳng giống chút nào với cách hành đạo trong các tôn giáo khác.
Có thể nói đấy là cách đề xuất một kết hợp tôn giáo với thi ca. Cụ thể là ngày ngày ( hoặc đêm đêm) ông vào nhà hành đạo, tức vào nhà trên, để ngồi vào bàn mà chép tự truyện. Đem cả cái tốt đẹp lẫn xấu xa của cuộc đời ta đặt lên giấy, rồi mang chính trí tuệ ta ra mà cân đo. Đấy là ông tóm lược về cách tu luyện của ông cho người khác hiểu. Cho nên phải nói rằng kinh văn của tôn giáo ông là được trước tác từng ngày, và mỗi ngày thì cuốn kinh văn đó là một dày thêm. Và tất nhiên là nguồn tư tưởng của kinh văn phải luôn được tu chỉnh, luôn được cập nhật hóa, cho phù hợp với cuộc đi tới của con người.
Chưa để cho ai vô đạo của mình, nhưng từ ngày treo tấm biển hành đạo lên là ông bắt đầu một cuộc truyền giáo rộng lớn, cuộc truyền giáo luôn giữ đúng theo tiêu chí ngẫu hứng. Nói rõ ra là kể từ lúc treo tấm biển hành đạo ấy lên thì bất kỳ ai, dù là người trong làng, hay khác làng, dù đàn ông hay phụ nữ, là người già đầu bạc hay tuổi trẻ đầu xanh, nếu cảm thấy có hứng thú thì cứ việc vào nhà ông, để ngồi vào bàn mà đọc kinh văn, tức đọc sách tự truyện của ông. Người ta không thể biết chắc đấy quả là tự truyện, hay chỉ là những áng văn chương hư cấu. Nhưng kinh văn ấy quả đã để lại trong lòng những người đã đọc nó những cảm thức nóng bỏng về trần gian. Ta đã trải qua một trăm mười hai vương quốc của loài kiến, tranh luận với năm mươi mốt nhà sinh vật học trên thế giới về chế độ xã hội có vua chúa của loài kiến, và chỉ khi quay về ngôi làng bé nhỏ, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, ta mới nhận ra rằng thế giới của loài kiến là một phúng dụ rất đẹp về thế giới con người, hay nói cách khác, nó, cái xã hội loài kiến đó là những ngụ ngôn vĩ đại đối với con người. Cứ thử đơn cử một câu trong sách tự truyện của giáo chủ, như câu này chẳng hạn, thì cũng dễ hồ nghi là ông đã hư cấu ra mọi sự.
Đúng là ông đã theo lũ kiến thật. Vừa xong cái tiến sĩ sinh vật học là ông lao ngay vào công cuộc nghiên cứu về loài kiến. Ở vùng quê trung du của ông là có rất nhiều kiến (kiến lửa, kiến riệng, kiến hôi…), lắm lúc đã trở nên thứ tai họa trong gieo trồng. Nhưng dưới sự đè ép của con người, thì đám kiến ở đây chẳng thể thể hiện hết khả năng sinh tồn của mình. Có nghĩa, các quần cư của loài kiến ở đây chưa phải là đối tượng nghiên cứu khoa học của ông. Có nghĩa, ông phải lên rừng. Ngài tiến sĩ kiến ( bấy giờ người làng gọi ông thế) đã biền biệt trên rừng suốt mười mấy năm. Nếu như lâu lâu không thấy bà vợ ông mang thai, người làng cũng dễ cho rằng ông đam mê khoa học đến nỗi quên cả nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người là phải làm cho loài giống mình luôn sinh sôi nẩy nở. Đam mê nghiên cứu là vậy, rồi bỗng bỏ rừng, về nhà, treo biển, thiết lập một tôn giáo mà lúc đầu ai cũng thấy là có vẻ kỳ cục. Ta, kẻ từng đam mê những ngụ ngôn vĩ đại ở trên rừng, thì giờ đây tôn giáo của ta cũng là ngụ ngôn, ta từng sống với những ngụ ngôn vĩ đại ấy, thì giờ đây ta cũng chỉ tin là chỉ ngụ ngôn mới khơi được ở con người tình cảm luân thường. Ông nói với những ai muốn hiểu về tôn giáo của ông. Cũng là hơi khó hiểu. Nhưng chỉ trích đọc một chương nào đó trong sách tự truyện của giáo chủ, như chương sau đây, chẳng hạn, là sẽ rõ cả.
…Ta đến vương quốc thứ tám mươi của loài kiến thì gặp một sự cố quá lớn. Đây là vương quốc của giống kiến càn có thân hình khá to. Dường chỉ về đêm, chúng mới sống trong hòa bình. Còn ban ngày, ánh mặt trời vừa chiếu rọi trên rừng là ta đã thấy chúng cấu xé nhau. Có xác một con hổ đang thối rữa ven một suối nước. Khối thực phẩm to lớn này là nguyên nhân của chiến tranh. Ta lên rừng là để khảo cứu về loài kiến, nên đâu có thời gìơ để hiểu vì sao con hổ chết. Bấy giờ có hai sự kiện làm cho ta phải nghĩ ngợi. Một là, khi một loài bé nhỏ như loài kiến lại ăn thịt một loài to lớn như loài hổ. Và hai là, khi nguồn thực phẩm quá lớn thì cuộc chiến tranh giành nguồn thực phẩm ấy sẽ kéo dài ra. Chúng đánh nhau suốt hơn tháng trời. Cứ chia thành từng hai nhóm một, từng hai phe một, mà đánh nhau. Tất nhiên là ta phải ở lại đó trong suốt thời gian chúng đánh nhau. Ta đã khóc, nước mắt không phải là nhiều, nhưng vì đứng ở lòng con suối mà khóc, nên ta tin nước mắt của ta sẽ hòa vào biển cả, bỡi sông suối nào lại không đổ về biển cả. Nhưng nói vì thấy lũ kiến chết nhiều quá mà khóc, là nói chưa thật. Ta biết là bấy giờ, khi thấy lũ kiến chết nhiều quá, thì trí tưởng của ta lại hướng về loài người. Cũng giống lũ kiến ở nơi này, các cuộc chém giết nhau của loài người cũng là đồng loại chém giết nhau. Lũ kiến không có lời nói, im lặng đánh nhau, im lặng chết, nên không thể nói chuyện luân thường trong thế giới của chúng. Nhưng loài người, sau khi chém giết nhau, kẻ thắng thì tự ngợi ca mình, kẻ thua còn sống sót thì dùng hết thảy những lời lẽ có thể dùng được để tô điểm cho lòng thù hận của mình. Cho nên, nếu không nói đến chuyện luân thường, thì cơ hồ loài người tự hủy diệt mình. Nhưng ai là kẻ nắm giữ luân thường?
Ta đến vương quốc thứ tám mươi hai của loài kiến thì gặp cuộc va chạm giữa con người và kiến. Lũ kiến vàng quả là có đầu óc kiến trúc rất lớn. Là kiến trúc sư của thời hiện đại thì anh cứ thử phác thảo thứ nơi ăn chốn ở cho cái công xã loài kiến đến hàng nghìn con ấy thử coi? Nhà ở của lũ kiến vàng là thứ công trình có đủ tất cả các hạng mục cho một cuộc tồn sinh. Nó, cái tổ kiến ấy, là nơi hội họp của bầy đàn, là đồn lũy để cố thủ trước kẻ địch, là chiếc giường trong việc ái ân, chiếc nôi cho một thế hệ mới chào đời… Những phút đầu tiên đặt chân đến vương quốc ấy, ta cứ mê mẩn đứng nhìn những công trình kiến trúc theo lối treo ấy. Vào một buổi sáng núi rừng có vẻ đầy cảm hứng, lúc lũ kiến vàng đang tụ tập ở sân ngôi nhà chung, sửa sọan bay đi tìm thực phẩm cho kế hoạch dự trử của mình, thì đám người ấy xông tới. Ta nói là chớ nên làm hại những sinh vật nhỏ bé mà có đầu óc kiến trúc như loài kiến. Bọn họ, cả thảy là năm người đàn ông lực lưỡng, tưởng ta cũng là dân ăn kiến. Hãy nói đi, là ông đứng về phía con người hay phía lũ kiến? Tất nhiên ta hiểu, nếu nói đứng về phía lũ kiến, lập tức ta bị ăn đòn. Nhưng rồi ta cũng bị ăn đòn, dẫu chưa nói là đứng về phe phía nào. Như vậy là ta phải lặng lẽ ra khỏi vương quốc quả là rất sầm uất của loài kiến đó. Vừa bước, ta vừa ngoảnh nhìn những ngôi nhà treo dày đặt trên các cành cây, thấy lửa cháy, và đám người chuyên ăn kiến thì lần lượt dứt những cái tổ ấy xuống khỏi các cành cây. Ăn kiến là thuật ngữ để chỉ những người chuyên đi đốt tổ kiến vàng trên rừng để thu lấy đám kiến con chưa mọc cánh và thứ trứng sắp nở con về làm thức ăn cho con người. Ta cũng không biết có nên đem thuật ngữ luân thường ra nói ở trường hợp này hay không?
Phải nói là trời đất chí công với ta khi ta đến vương quốc của loài kiến vô cùng bé nhỏ đó. Ở nơi này ta kết thúc được một công cuộc nghiên cứu, và mở ra một công cuộc nghiên cứu khác. Riệng, là tên loài người dành riêng cho loài kiến đó. Một vương quốc của kiến và hoa rừng. Hay nói theo nghiên cứu khoa học thì nơi cư trú của loài kiến riệng là những rừng cây thấp và có nhiều cây có hoa. Thức ăn chính của chúng là mật hoa. Cứ từng đàn nhỏ leo lên nằm ở những khóm hoa rừng, chẳng vội vã gì trong việc ăn uống của mình. Cuộc sống của loài kiến riệng là một cuộc nhẩn nha, thời gian như chẳng là cái quái gì đối với bọn chúng. Hút mật hoa xong thì kéo đến nằm hoặc là trong một hốc cây, hoặc là nơi một mô đất, chổ ở như chẳng có nghĩa lý quái gì đối với bọn chúng. Và dưới mắt con người thì bọn chúng, cái lũ kiến chuyên hút mật hoa đó, là xúc phạm đến vẻ đẹp của các loài hoa. Nhưng nữ thần của các loài hoa đã giảng cho ta nghe về chuyện này. Vào một sáng mùa xuân (ta đến vương quốc của loài kiến ấy là vào mùa xuân), ta đang nhìn đám kiến riệng hút mật ở một khóm hoa bần bân ( hoa bần bân là loài hoa thơm nhất ở vùng núi rừng này), và đang cảm thấy bực bội trong lòng, thì nữ thần của các loài hoa từ trong khóm hoa ấy bước ra. Em xin chào anh. Nàng chào hỏi ta xong thì vẫy tay về phía lũ kiến. Vẻ đẹp của nàng như làm cho đầu óc ta trở nên thông tuệ. Có phải là lũ kiến đã làm xô lệch đường nét của hoa, tức chạm đến chỗ tự tại trong thế giới các thần? Ta đã hỏi được một câu, mà chưa chắc trước đó đã nghĩ ra. Nàng trẻ hơn ta nhiều lắm. Nhưng sự thông tuệ trong ta mách bảo ta rằng trong thế giới các thần là không có tuổi tác. Nàng bảo nghĩ như thế là nghĩ theo cách của con người, còn trong thế giới các thần thì việc lũ kiến hút mật hoa là thuộc về một trong những nét của tồn tại. Em đang nói về các mối quan hệ trong thế giới các thần? Thưa phải. Nàng đáp, và giảng giải thêm rằng ở thế gian gọi các mối quan hệ ấy là luân thường, thì trong thế giới các thần gọi là những nét của tồn tại. Nhưng ai là kẻ nắm giữ luân thường trong thế giới các thần? Ta liền hỏi. Nàng bảo, ngay cả thần của các thần, tức là trời, cũng chẳng thể nắm giữ luân thường, mà vẻ đẹp của một áng mây trôi, tiếng nhạc của gió, nét hào hoa của một vầng nhật nguyệt, hay một vũ điệu của một quần tiên, những thứ như thế là đã gợi nên những cảm thức về một trật tự của tồn tại. Có nghĩa chỉ có những khơi gợi về trật tự của tồn tại, chứ chẳng ai có thể nắm giữ được nó? Ta xen vào hỏi. Nàng mỉm cười với ta thay cho lời đáp. Rồi theo cung cách các thần, nàng hôn lên vầng trán ta, để chia tay ta. Còn ta thì theo cung cách con người, ta hôn lên môi nàng, để thay lời từ biệt. Phải, chẳng có ai cả, là có thể nắm giữ luân thường, ngay cả nguyên thủ của các thần, ngay cả nguyên thủ của loài người. Ta giữ nguyên niềm hứng khởi, quay trở về nhà, treo biển, lập nên tôn giáo ngụ ngôn của ta. Mà tôn giáo của ta cũng chỉ là thử đề xuất với trần gian
|