Trang chủ Văn học Phim Giải trí Liên hệ
   
Tin tức | Tiểu thuyết | Truyện ngắn - truyện vừa | Lý luận - Phê bình | Thơ | Tản văn |
Truyện ngắn - truyện vừa
 
In trang 

Giọt nước cho chút lá - chùm truyện ngắn của Nguyễn Đức Thiện

Cánh cửa nhà giam khép lại. Anh công an đã thật nhẹ tay, nhưng tiếng động vẫn dội lên, khắc nghiệt. Bao giờ cũng thế, mỗi khi tiếng động ấy dội lên thày giáo Quỹ đều ngoái đầu nhìn lại. Mắt thày trĩu buồn. Cạnh thày, đứa nhỏ gày guộc cũng đang ngoái cổ nhìn về phía cánh cửa nhà tù. Những giọt nước ấp đầy mi mắt nó.

                Hai người hai chiếc xe đạp, sóng hàng. 
                Anh trực đài truyền thanh của nhà máy chờ thày ở cổng nhà:
                - Thưa thày. Có người điện thoại báo chiều nay người ta sẽ đến thăm thày.
                - Ai thế?
                - Dạ không biết. Họ điện thoại hỏi thày còn không. Em bảo còn. Họ hỏi thày còn ở chỗ cũ không. Em bảo họ vẫn còn. Họ nhắn em báo thày chiều nay họ đến thăm. Thôi em về. Thày sắm cái điện thoại đi. Trong nhà, không có cái điện thoại bất tiện lắm thưa thày….
Thày dựa chiếc xe đạp vào bờ hiên, nhắc đứa nhỏ khóa xe của thày lại.
                - Con nghe rồi đó. Chiều nhà ta có khách. Con cầm tiền ra chợ, mua thêm chút dầu ăn. Lỡ người ta có ở lại ăn cơm với thày trò mình thì còn có cái mà nấu. Đi nhanh, về nhanh, còn ăn cơm mà đi học chiều.
                Thằng bé vâng một tiếng thực lễ phép, làm hết việc được nhắc rồi cầm những đồng tiền thày giáo Quỹ đưa cho, chạy xe đi.
Nhà thày ở cạnh một con suối nhỏ, không có tên. Bờ suối dựng như bờ vực. Ngay cạnh bờ suối có một dẻo đất. Trên dẻo đất ấy có một ngôi nhà. Giữa những nhà xen nhau như dãy phố, ngôi nhà này tách hẳn ra nhờ một vòng tườøng xây bằng những viên gạch xỉ than tự đóng. Ngôi nhà đã cũ kỹ lắm. Mái ngói đã phủ lớp rêu đen. Tường nhà cũng xây bằng gạch xỉ, màu vôi đã cũ. Cổng có hai cánh cửa gỗ, mỗi cánh vẹo sang một bên, khi đóng lại sẽ không thể kín nổi. Nhưng cổng lúc nào cũng mở toang trừ khi đêm xuống hoặc khi thày vắng nhà. Ngay cổng gặp một cây cầu. Cây cầu này không phải làm để người đi. Nó vốn là những trụ sắt, đỡ một đường ống lớn bằng cả người ôm, dẫn nước từ máy bơm ven sông Cầu về nhà máy. Phía trên ống nước người ta giát thêm những thanh sắt bảo vệ. Người ta đi lại ngay trên đó vì thế mà nó được gọi là cây cầu. Cây cầu ấy không có tên, nối hai bờ suối không tên. Bờ bên này là xóm thợ, bờ bên kia là xóm nhà quê toàn những người làm nương, làm ruộng. Xóm nhà quê có cái tên Đồng Xe. Còn xóm thợ này cũng không có tên.
                Thày Qũy vào bếp nấu cơm. Một cái nồi bé xíu được bắc lên bếp. Ngọn lửa than hừng hực cháy như muốn thiêu rụi luôn cái nồi. Thày ráng nhướng con mắt lên chăm chú nhìn bóng nước đang sôi ùng ục trong đó. Khi nước vừa cạn, thày lấy một lớp tro, đổ lên phủ kín hết mặt than hồng, rồi mới đặt lại cái nồi lên trên. Gía mà không phải ăn thì người như thày đâu có phải tỷ mẩn làm công việc chẳng cần mấy thời gian nhưng lại phải rất cẩn trọng kia. 
                Thày bước ra sau vườn. Mảnh vườn con con và những cây rau đủ loại mọc tuỳ tiện. Rau dền xen rau cải. Lá mồng tơi chen mọc với mấy cọng rau muống cạn. Cũng không nhiều, mỗi lần hái nấu chừng hai nồi canh là hết. Với thày như thế là đủ. Đã lâu lắm rồi thày đã quen với rau dưa. Rau dưa sạch ruột. Thế mà thày vẫn săn chắc, da thịt đỏ au. Mái tóc bạc lưa thưa. Gương mặt rắn rỏi. Chỉ có cặp mắt là hơi kém nên mỗi khi làm cái gì thày phải nhướng lên, hay nheo mắt lại ghé thật gần vào những vật cần nhìn. Thày hái rau như đếm từng cọng. Mỗi thứ vài cọng thôi. Chẳng cần rổ rá gì, cứ nắm nó vào chét tay. Một chét tay chặt là đủ nồi canh rồi. Bàn tay thì làm mà đầu óc thày cứ mông lung. Sao lại cứ phải có nhà tù cho con người? 
                Thày không phải chỉ có một mình. Vợ thày mới “ về” cách nay gần chục năm. Con trai lớn đi bộ đội vào những năm ác liệt nhất của chiến tranh. Ở miết bên chiến trường Lào. Hoà bình, anh ta về thăm thày và xin thày cho ở lại xứ đó vì chót yêu một cô gái sứ Chămpa rồi. Thày đồng ý liền và còn nói: “ Con đi trả nợ đất ấy giúp thày. Ngày xưa, đất HàTĩnh mình nghèo mà thày phải lưu lạc. Không có đất Luôngprapăng chắc thày chết đói rồi. Có đôi ba chữ, chữ Pháp, chữ Tàu học được ở quê, chẳng dạy cho ai được thế mà sang đất người ta lại có thể kiếm sống. Suốt một thời thơ trẻ thày sống ở đó mà.”. Đứa con trai thứ hai học xong Đại học về quê đi dạy. Lúc đầu thày ngỏ ý: Mình quê Hà Tĩnh, bỏ quê đi quá lâu, mà thày thì không về được… Mới nói được có thế, anh con trai đã nói: Thì để con về. Anh ta về thật. Một cô con gái chẳng nói làm gì. Gái về nhà chồng rồi. Hồi bà còn sống, thày có nuôi một đứa cháu nội con anh cả. Anh muốn cho thằng nhỏ ở với ông bà nội để giữ và nói tiếng Việt gốc. Ai dè, nó cũng có máu của ông nội, của cha đẻ: lớn lên nhất định đòi ra nước ngoài kiếm việc làm. Thế là nó đi lao động nước ngoài, rồi lấy một con vợ mắt xanh lè, về Việt Nam thăm ông nội được đúng một lần rồi đi luôn. Lâu lâu căn nhà cũ kỹ này sôi lên một trận vì có con cháu, hoặc có những học trò bỗng nhớ đến thày về thăm, rồi sau đó lại chìm nghỉm trong sự tĩnh lặng. Nhất là khi bà “ về”. Anh con trai thứ hai mấy lần mới thày về ở trong quê. Thày không đi. Lý do thực đơn giản: Thày về sống đất này kề từ khi hoà bình năm “ năm tư”. Về đây, thấy thày bảo thày đã làm thày giáo, thế là người ta mở lớp cho thày dạy. Cái nghĩa ấy thày không sao trả được, thôi thì để thày sống chết với đất này cho trọn nghĩa. Mà thày còn bao lớp học trò. Đi rồi lỡ chúng muốn gặp lại, làm sao mà gặp được.
                Rau trong chét tay đã đầy, nhưng thày vẫn hái. Trước đây chỉ một mình thày, nhưng lâu nay có thêm thằng nhỏ, một chét tay không đủ phải thêm một ít nữa, nên thày phải ôm cả mớ rau vào lòng mình.
*
*        *
Khách đến vào giấc ba giờ chiều. Ông ta đi trên một chiếc Woai-anpha màu bạc len lách trên con hẻm bê tông đến tận cửa nhà thày giáo Quỹ. Ông ta cúi đầu chui qua cái cổng có hai cánh xiêu vẹo. Ông ta dơ cả hai tay lên và ôm choàng lấy thày giáo Quỹ khi thày mới từ trong nhà bước ra.
- Em chào thày. Thưa thày…
Thày giáo Quỹ khẽ đẩy tay người đàn ông ra và nhướng mắt:
 - Anh là ai, sao tôi không nhận ra…
- Dạ, em là Vĩnh. Vĩnh bàn cuối lớp bốn của thày ngày xưa đây ạ…
- Vĩnh… Ờ, ờ, Vĩnh….
Thày ngập ngừng thế một lúc khá lâu và rõ ràng, thày chưa thể tìm ra được cái nét của cậu học trò lớp bốn có gì giống với người đàn ông rẳn rỏi, mạnh mẽ trước mặt mình. Thày đưa cả hai tay, mời khách vào nhà. Ông khách cẩn thận dắt chiếc xe máy qua cổng và lấy ra từ chỗ đèo hàng một bọc nhỏ mang vào nhà, hai tay nâng lên đưa cho thày giáo Quỹ: 
- Thưa thày, kể từ ngày lên học cấp hai đến giờ, em không về thăm lại thày. Em đến để xin lỗi thày xin thày nhận cho em gói quà này, coi như thày đã tha lỗi cho em…
Thầy Qũy không thể chối từ dơ tay nhận lấy:
- Anh đến thăm tôi thế này là quá tốt rồi… Lần sau đừng quà cáp gì nhé. Mà này, tôi nhớ ra anh rồi đấy. Đừng trách tôi già lẩm cẩm hay quên. Gần tám mươi rồi còn gì…
Cả hai bỗng yên lặng. Chuyện về một đêm cách nay hơn bốn mươi năm bỗng hiện về.
Đó là một đêm mùa đông, rét như cắt da cắt thịt. Không ai còn đi lại trong cái đêm rét mướt như thế. Vĩnh một mình lang thang trên đường. Nó không còn đường nào để về. Nhà nó giờ này chắc đã đóng cửa. Bố nó chắc đã hết cơn giận lên giường ngủ. Chắc là chỉ còn có mẹ thức vì lo cho nó. Con đường ra cổng nhà mày giấy Đáp Cầu cũng đã vắng tanh, vắng ngắt. Nó đói và rét. Đói vì từ chiều đến giờ nó không có hạt cơm nào vào bụng. Rét vì trên mình nó chỉ có một chiếc áo sợi chùm ra bên ngoài chiếc áo sơ mi mỏng tanh. Nó không dám về nhà. Một cây roi tre đang chờ nó. Một ông bố dữ đòn đang chờ nó. Chiều nay, khi nghe ông bố quát lên: “ Đứa nào lấy tiền trong túi tao?” là nó biết mọi chuyện sẽ bắt đầu nếu nó không trốn nhanh ra khỏi nhà. Không oan một chút nào. Chính nó chứ không phải ai khác. Lần này nữa là lần thứ bao nhiêu mà nó vẫn không chừa. Hễ túi áo bố sơ hở, thế nào nó cũng móc. Khi thì vài xu. Khi thì vài hào. Cũng vì vài xu, vài hào đó mà nó đã từng bị những trận đón tím tái cả cái mông vốn gày đét của nó. Vậy mà nó cứ không chừa. Lần này không phải vài xu, vài hào mà vài đồng. Vài đồng với mức lương công nhân cơ khí của bố, sẽ không còn là nhỏ nữa. Vĩnh là một đứa trẻ không ra ngang ngược mà cũng không ra một đứa trẻ hiền lành. Mỗi khi bị đánh đòn là mỗi lần nó khóc thảm thương và lạy bố như tế sao. Nhưng rồi sau đó đâu lại hoàn đó. Có gan sang nhà hàng xóm bẻ cổ gà mang ra suối nướng ăn. Có gan chặt cả buồng chuối nhà hàng xóm, rấm chín ăn dần. Chơi đáo bằng cúc áo về nhà vặn tất cả cúc áo trong nhà. Với nhà, nó là một đứa trẻ bất trị. Ông bố rát đòn đánh nó mãi rồi cũng nản. Nhiều khi chỉ còn bết nhìn nó mà thở dài. Lần này là mấy đồng. Không còn là chuyện nhỏ nữa, Vĩnh biết thế. Nó còn biết lần này nó đã đi quá đà, nên nó không dám về nhà. Con đường ra cổng nhà máy sao mà dài thế. Nó thèm được rúc vào chiếc chăn bông khai mù nước đái của mấy đứa em. Được ngồi bên cạnh cái bếp than hồng rực và bỏ vào đó một củ sắn để lát sau chín quệt mỡ mà nhai. Nghĩ đến củ sắn bụng dạ nó lại cồn cào đói. Nó bỗng thấy cả một khoảng rộng sâu thẳm và đen thui trước mặt. Vĩnh nhận ra, đó là sân vận động của nhà máy. Mà bên cạnh sân vận động là lớp học của nó. Thôi được ghé vào lớp, ngả lưng lên mấy chiếc ghế mà ngủ qua đêm. Chứ còn biết đi đâu bây giờ. Lớp học tường đất mái lá, không cửa nẻo gì. Ngày ấy trường học giống như nhà thờ, chẳng ai dám đến mà phá phách. Vĩnh lẳng lặng chui vào lớp, đến ngay cái bàn mình ngồi học mỗi ngày và ghé lưng xuống cái ghế băng dài. Nhưng cơn đói cứ thúc vào dạ dày nó, khiến cái lạnh càng lạnh hơn. Nó lại bò dậy. Bỗng có một đốm lửa hiện ra. Bếp nhà thày giáo Quỹ. Hồi ấy thày giáo Qũy chưa có nhà. Thày còn ở trong một gian hẹp cạnh ngay lớp học. Gian bếp được làm tách ra. Vĩnh bò dậy. Mong sao, trong bếp nhà thày còn một ít cơm nguội. Thế nào cũng có muối. Cơm nguội chấm muối cũng tốt chán rồi. Cũng chẳng mấy khó khăn để lọt được vào bếp nhà thày giáo Quỹ. Chỉ có một cái phên nứa đan lóng một.Trong bếp có một lò than đã biï chét kín chỉ còn hở có một cái lỗ tròn bằng ngón tay. Nồi cám lợn. Nhà thày cũng nuôi lợn.. Vĩnh thò tay vào chạn. Cái chạn trống không. Ngọn lửa than tạo ra một thứ ánh sáng yếu ớt đủ cho nó thấy được hết các thứ trong bếp. Vài cái nồi. Nó mở vung từng cái. Toàn là nồi không. Nó thất vọng ngồi xệp xuống ngay cạnh bếp than hồng. Dù sao thì cũng được chút ấm áp. Nó chợt nhớ ra, trong nồi cám lợn thế nào cũng có củ sắn. Nhà nào nuôi lợn mà không nấu sắn cho lợn ăn. Nó kiếm được một thanh củi và nhè nhẹ mở nắp vung nồi cám. Bàn tay nó chạm vào nắp vung, bỏng dãy. Nó buông vội. Nắp vung rơi xuống làm vang lên một tiếng động khiến nó rụng rời chân tay. Một ánh đèn pin loé lên. Hồn vía Vĩnh bay đi đâu hết. Bây giờ thì nó run lên vì sợ, chứ không phải vì rét nữa.
- Vĩnh phải không em?
- …
- Lên nhà đi em. Đừng sợ. Không ai làm gì em đâu…
- …
- Lúc tối, bố em có đến đây tìm em. Vì thế khi nghe tiếng động ở ngoài lớp tôi đoán là em đã đến. Người như em thì chỉ còn biết đến lớp học thôi chứ còn đi đâu nữa… Lên nhà đi, tôi rang cơm lại cho mà ăn… Đói lắm rồi phải không?
Đã từng bốc vụng ruốc thịt của em, từng xẻo trộm một miếng thịt nạc bỏ vào chảo mỡ rán vàng, từng ăn vụng một miếng thịt gà kho nước mắm… ngon thật. Aên vụng, bao giờ cũng ngon thật. Nhưng chắc không thể ngon được bằng bát cơm rang đêm ấy thày giáo Quỹ rang cho Vĩnh. Cả nhà thày không ai thức dậy. Chỉ có hai thày trò. Thày hỏi:
- Vì sao em bỏ nhà đi như thế này?
- Em sợ bố em đánh…
- Vì sao bố lại đánh?
- Dạ, thưa thày…
- Em không muốn trả lời khải không? Thì thôi vậy… Nhưng bố em đã cho thày biết hết rồi. Em ngủ lại đây đêm nay, mai phải về. Về xin lỗi bố mẹ. Cũng còn may, em không ra ga Quán Triều, ga Đồng Quang, ra ngoài chợ… Mà còn biết tìm đường về lớp. Lớp bốn rồi. Biết nghĩ rồi em đừng làm cho bố mẹ buồn, đừng làm cho thày phải buồn.
Đêm ấy Vĩnh không nói thêm câu nào nữa. Mọi chuyện rồi cũng qua đi. Sáng hôm sau thày giáo Qũy lấy xe đạp đèo Vĩnh về nhà. Thày giáo và bố Vĩnh nói gì với nhau ở nhà trên Vĩnh không nghe được nhưng khi thày về, không thấy bố Vĩnh gầm lên vì giận dữ như trước kia.
Bốn mươi năm rồi. Chuyện ấy, Vĩnh nhớ đến tận hôm nay.
- Em cảm ơn thày…
- Sao em nhiều lời cảm ơn thế? Mà cảm ơn vì cái gì nào.
- Vì bát cơm rang đêm hôm ấy… Nếu không có nó, không biết bây giờ em sẽ thành con người như thế nào?
- Thế bây giờ em làm gì?
- Dạ, em đi viết báo…
- Viết báo? Hay đấy. Tôi còn nhớ ngày ấy tôi thì bảo “ nước trong leo lẻo “ là một cách viết hay, còn anh thì cãi “ nước thì làm sao lại trong leo lẻo được”. Anh đi làm báo là phải… Nhưng anh vẫn chưa nói cho tôi biết vì sao đêm ấy anh lại bỏ nhà ra đi đấy nhé…
- Dạ, thưa thày…
- Lại dạ thưa thày…
Thày giáo Quỹ chỉ nói được câu ấy rồi thôi.
Anh vẫn chưa dám nói thật sao? Bốn mươi năm rồi còn gì nữa. Ngày ấy tôi cử anh làm lớp phó. Tôi giao cho anh thu tiền gây qũy cho lớp. Tiền thì anh thu. Nhưng anh lại không nộp. Anh tiêu đi một vài xu. Hụt một vài xu anh không dám nộp, thì hôm sau nó hụt mất vào hào. Hụt đến vài hào, anh ngừng lại đi thì thôi, cũng chẳng sao. Lỡ tiêu rồi anh tiêu hết luôn. Tôi biết nhà anh nghèo. Nhà anh đông các em. Lo bữa ăn hằng ngày còn khó. Mà anh thì thèm những cái mà trẻ con rất thèm. Một cái kẹo vừng. Một cái bánh rán. Vài xu xôi… Đứa trẻ nào mà chẳng thèm những thứ đó. Tiêu hết tiền thu của bạn, anh mới phải lấy tiền của bố anh tính để bù vào. Anh có biết vì sao hôm sau bố anh không đánh anh nữa không. Vì tôi xin cho anh, tôi xin để anh nộp lại tiền lớp cho tôi. Cho anh đỡ xấu hổ với bạn bè. Thế mà đến tận bây giờ anh vẫn không dám nói thật với tôi. Người ta nói dối được một lần, người ta sẽ nói dối được lần thứ hai, rồi nói dối cả một đời. Mà thôi, bây giờ anh cũng đã thế kia rồi, sang nửa cuối cuộc đời rồi. Tôi tiếc ngày ấy tôi đã không đánh anh một cái cho thật đau để anh nhớ đời. Cái lần anh làm bẩn vở ấy. Tôi biết anh dây mực ra tay, anh đã bôi lên vở. Vậy mà khi tôi hỏi anh chối bây bẩy: thưa thày tự nhiên mực nó rơi vào. Dấu tay anh rõ ràng mà anh còn dấu tôi. Tôi dơ cái thước thật cao, nhưng khi đánh xuống tay anh, tôi lại hạ thật khẽ. Vậy mà anh sợ, đái ướt cả đũng quần. Anh là học sinh giỏi của tôi ở cái lớp bốn đầu tiên tôi được dạy trong đời, mà tôi thương anh. Nên tôi chẳng đánh anh đau…
- Mà quên tôi không hỏi, không phải ngẫu nhiên anh đến thăm tôi chứ?
- Vâng. Em đến đây còn vì một việc nữa. Em muốn viết về cái xóm này.
- Xóm không tên, cầu không tên, suối không tên, có gì mà viết?
- Dạ, nó có tên rồi đấy, thưa thày.
- Tên gì?
- Xóm nghiện
- À tôi hiểu rồi.
Thày lặng đi, buồn. Lát sau:
- Anh có muốn nghe tôi khuyên anh một câu không?
- Dạ nghe ạ.
- Anh đừng viết gì cả. Đừng viết gì hết. Xóm nghiện. Anh có thấy nó rất chua xót không? Tôi ở đây đã gần năm chục năm trời, người ta chưa bao giờ nghĩ đến đặt cho xóm này một cái tên. Bây giờ là xóm nghiện. Đúng, con nghiện ở đây nhiều lắm. Ngay trước cửa nhà tôi là có thể mua được thuốc phiện, mua được heroin. Tôi đây cũng là nạn nhân của con nghiện đó. Một năm hai mươi ba lần bị mất trộm. Toàn trộm vặt. Có cái gì bán được là bị trộm. Thôi thì chẳng cần có cái gì trong nhà cả. Thế là hết trộm. Nhưng anh biết ai trộm của tôi không? Học trò của tôi đấy. Nó nghiện. Nó không có thuốc thì nó chết. Nó phải trộm… Vợ nó thương nó, mua thuốc cho nó. Tiền đâu nhiều cho nó hút. Vợ nó mới mua mười bán đi chín, lấy lời cho chồng hút. Người ta ào đến bắt. Cả hai vợ chồng. Trong nhà còn đủ thứ để hai đứa lãnh án hai mươi năm ngồi tù. Tôi làm thày mấy chục năm. Về hưu cũng đã mấy chục năm rồi. Học trò thành đạt nhiều, tôi mừng lắm. Nhưng mừng bao nhiêu thì buồn bấy nhiêu. Một trăm học trò thành đạt không giúp tôi hết buồn khi có một học trò hư hỏng. Cá không ăn muối cá ươn. Khi tôi dạy các anh, tôi có bảo các anh nói dối, ăn cắp, ăn trộm đâu. Vậy mà vẫn có những đứa học trò như thế. Lại còn đi tù nữa chứ…
Đã xế chiều. Nắng đã bắt đầu nhạt. Thằng bé dắt chiếc xe đạp lọc cọc vào cổng:
- Thưa thày con về. Cháu chào bác ạ
Thày giáo Quỹ nhận ra ánh mắt ngạc nhiên của Vĩnh:
- Nó chẳng phải con cháu gì của tôi hết. Con của thằng học trò mà tôi vừa kể với anh đấy. Hôm tuyên án nó xong, thằng bé gào lên gọi bố gọi mẹ nghe mà xót ruột, xót gan. Tôi đưa nó về và nuôi nó đến bây giờ. Mỗi tháng đưa nó lên thăm bố mẹ nó một lần. Hai mươi năm. Tôi muốn khi vợ chồng nó ra tù sẽ có một đứa con tử tế. Nhưng không biết tôi có sống được đến ngày đó không? Gần tám mươi rồi còn gì nữa. Mấy ai sống được trăm tuổi đâu. Anh hỏi sao tôi không giận bố mẹ nó ư? Giận, giận rất nhiều nữa. Nhưng giận rồi lại thương. Vì nó là học trò của tôi mà.
Thày giáo Quỹ thở dài. Tiếng thở dài bật ra làm buồn cả một chiều. Thày quay sang thằng bé:
- Con xuống lo cơm nước. Nấu cơm cả cho bác đây ăn luôn. Sang nhà bác Thanh mượn cái nồi to mới nấu đủ cơm ăn. Nhanh nhanh lên con. Aên cơm xong, nhớ đi gọi mấy đứa lại học nghe không?
Thằng bé vâng một tiếng thật lễ phép. Vĩnh hỏi:
- Thày vẫn dạy học ạ?
- Anh thấy đấy. Xóm nghiện mà. Lũ nghiện tiền lo cho nghiện ngập hết. Con cái chẳng được học hành gì. Tôi mở cái lớp ở tại nhà này cho chúng nó. Anh có biết không, sau nhà tôi có một vườn rau. Rau trồng có, rau dại có. Ngày nào tôi cũng tưới. Sức già rồi, tưới chẳng được bao nhiêu. Nhưng vài giọt thôi có khi cũng làm tươi lại được một cái lá …
Vĩnh xốn xang. Thày ơi, nếu sau đêm rét buốt kia mà em bị một trận đòn đau, nếu hôm đó thày đánh em một thước thật đau , thì đời em sẽ ra sao. Em xin lỗi thày rồi sẽ có một ngày em có gan nói thật. Trước hết là thật với mình đã. Vâng, có thể em đã là chiếc lá nhận được vài giọt nước thày tưới mỗi ngày …
 
 
 
 
HƯƠNG NHÃN
Truyện ngắn của
NGUYỄN ĐỨC THIỆN
 
                Thanh lên tàu điện. Lần này phải ra chợ Đồng Xuân. Chợ Mơ, chợ phố Huế, Thanh đã lội khắp. Mùa nhãn chớm đến. Thế mà mẹ đòi ăn nhãn. Giữa Hà Nội này, kiếm cho được thứ nhãn mẹ muốn không dễ một chút nào. Qua mấy chợ, chỉ thấy có mỗi thứ nhãn trơ. Cùi mỏng dính và hột thì to. Chắc mẹ không thích đâu.
                Mẹ Thanh nằm viện tính ra đã hơn một tháng rồi. Gần một tháng ở bệnh viện tỉnh. Thanh lớn nhất. Những đứa em Thanh lau nhau một bầy bốn đứa, nhưng chẳng thể trông cậy vào đứa nào. Đưa mới ba bốn tuổi. Đứa lơn hơn cũng chưa kịp khôn. Bệnh mẹ không thể chữa được. Bệnh viện tỉnh đã nói thật với Thanh như thế. Nhưng khi đưa mẹ về nhà, thấy mẹ tỉnh táo lại, Thanh mừng, nên quyết chí đưa mẹ về Hà Nội. Mấy ngày qua, tự nhiên mẹ nói chuyện rất nhiều. Như có bao nhiêu niềm vui đang ùa ra. Gương mặt mẹ lúc nào cũng sáng lên. Mới hôm qua mẹ kể: “ Con biết không? Chuyến về quê năm ngoái, mẹ gặp lại bao nhiêu người quen. Toàn bạn thời con gái của mẹ. Không theo bố con lên Thái nguyên, chắc bây giờ mẹ cũng như họ. Một mái nhà tranh. Vườn cây, ao cá. Mẹ về đúng mùa nhãn chín. Cả cái huyện Phủ Cừ chỗ nào cũng vương mùi nhãn chín. Những cây nhãn cổ thụ, cao lơn. Người ta phải trèo lên mới hái được quả. Sân nào nào cũng phơi long nhãn. Lâu lắm rồi mẹ mới được ăn trái nhãn lồng. Thơm, ngon, ngọt và dòn. Xa quê kể từ trước ngày có con. Hơn hai chục năm trời còn gì. Bây giờ mẹ thèm nhãn quá. Làm sao có được một trái thôi, ăn rồi chết cũng được.” Thế nên Thanh phải đi chợ. Mới tấp tểnh về Hà Nội làm việc chưa được bao ngày. Hà nội dăng mắc đường, Thanh phải vừa đi vừa hỏi. Chẳng có cách nào tốt hơn là cứ bám đường tàu điện mà đi. Có mấy xu tiền là có thể dong duổi dọc ngang Hà Nội, là có thể đến được những nơi mình muốn đến. Cuối cùng thì Thanh cũng đến được chợ Đồng Xuân. Lội gần khắp chợ, qua hết các quầy bán hàng hoa quả, Thanh cũng chỉ thấy được những thứ nhãn giống như ở các chợ khác.
                Bỗng Thanh thấy một người đàn bà tuổi chắc cũng xấp xỉ như tuổi mẹ Thanh. Chiếc áo nâu che không kín được thân hình đã xồ xề của bà. Chiếc khăn chít mỏ quạ che không hết được mái tóc đã bắt đầu bạc của bà. Trước mặt bà là một cái mẹt nhỏ, trong đó có mấy quả na và mấy chùm nhãn. Thanh toan lướt qua. Nhưng những trái nhãn đập vào mắt Thanh. Thanh dừng lại:
                - Bác ơi, nhãn này có phải nhãn lồng Hưng Yên không bác?
                - Sao cậu tinh mắt thế. Đúng đấy cậu ạ. Nhưng sao cậu biết đây là nhãn lồng Hưng Yên.
- Cháu chưa được ăn bao giờ. Nhưng cháu đã nghe mẹ cháu kể. Trái nhãn đều nhau này. Tròn này. Chín, vỏ màu nâu này… Cái lá này nữa, nó hơi tròn chứ không dài như những lá khác.
- Đúng rồi. Nhất định mẹ cậu phải là người Phủ Cừ, đúng không?
- Vâng. Mẹ cháu mới về quê năm ngoái.
- Thế hả? Phải rồi, chỉ người xứ nhãn lồng mới biết rõ thế nào là trái nhãn lồng thôi. Với cậu tôi nói thực, trong số những chùm nhãn này chỉ có mỗi một chùm là nhãn lồng thôi. Tôi không buôn bán như người ta. Toàn đồ xứ quê, mang từ quê ra. Nhãn lồng đắt lắm, không ai người ta dám ăn. Người thế nào mới dám mua một chùm ăn cho biết mùi. Này, chùm này tôi để rẻ cho cậu. Mà mẹ cậu bây giờ ở đâu?
- Mẹ cháu đang nằm bệnh viện. Tự nhiên mẹ cháu thèm nhãn mà chỉ thèm nhãn lồng Hưng Yên. Cháu chạy mấy chợ rồi cũng không có. May quá…Bác để cho cháu bao nhiêu?
- Cậu nói mẹ cậu đang ở bệnh viện hả. Bệnh nặng lắm mới phải đưa từ quê lên Hà Nội, phải không? Thôi này, tôi biếu mẹ cậu chùm nhãn này. Gọi là thơm thảo quê nhà lúc mẹ cậu bệnh tật.
- Dạ không. Để cháu trả tiền cho bác.
- Này tôi nói cho cậu nghe nhá. Chùm nhãn này tôi bán chừng hào mốt, hào hai là cùng. Giầu nghèo gì cái hào mốt, hào hai. Giữa Hà Nội biết một người đồng hương bệnh, không lẽ tôi biếu chút quà không được sao. Không chừng tôi với mẹ cậu có khi còn họ hàng nữa ấy chứ. Phủ Cừ, cái huyện có rộng bao nhiêu đâu. Nhãn lồng ngon lại chỉ có ở Trần Xá, Cao Xá… Cầm lấy đi cậu. Nói với mẹ cậu, tôi gửi lới thăm. Người đồng hương hỏi thăm…Nghe chưa?
Chùm nhãn chỉ có chừng hai chục quả, mà sao nặng trĩu trong tay Thanh. Nước mắt cứ muốn trào ra khỏi mí. Thanh lên tàu điện rồi mà vẫn cứ hình dung người đàn bà quê mùa không quen biết đang đứng nhìn theo.
Thanh bóc một quả nhãn cho mẹ. Hương nhãn bay ra. Mẹ Thanh nói như reo:
- Đúng là nhãn lồng rôi.
Mẹ cầm quả nhãn nhấm từng chút một như để tận hưởng hương vị sản vật xứ quê. Thanh giục:
- Mẹ ăn đi. Vẫn còn nữa đây này…
- Không. Một quả thôi con ạ. Con giữ lấy mà ăn. Mai, những đứa em có lên thăm mẹ, cho chúng nó mỗi đứa một quả ăn cho biết quả nhãn lồng Hưng Yên. Mai này, khi có điều kiện con nhớ về quê ngoại. Họ hàng nhà nhà mình ở đấy không nhiều. Nhà cũ của mẹ còn. Bây giờ người khác ở. Nhà có bốn cây nhãn lồng. Lớn lắm. Ông nọi mẹ trồng từ lâu lắm rồi. Hôm bố con đưa mẹ về, đến đầu làng Cao Xá là mẹ nhận ngay ra nhà cũ của mẹ…
Mẹ thiếp đi. Rồi mẹ thiếp đi luôn vĩnh viễn. Trái nhãn lồng trong tay mẹ vẫn chưa ăn hết. Hương thơm từ trái nhãn vẫn còn bay ra, ngào ngạt.
Ba mươi năm không có mẹ, Thanh vẫn cảm thấy mình khù khờ. Thèm có tiếng rày, tiếng quở của mẹ để bớt ngu ngơ. Môi Thanh vẫn còn mặn chát. như mới khóc mẹ ngày nào. Trong Thanh vẫn còn dào dạt kỷ niệm về mẹ ngày xưa.Thấp thoáng bóng hình của mẹ, loanh quanh ra trước vào sau. Sao nhiều nỗi lo như thế, để mẹ bước thấp bước cao. Viên thuốc cho con lúc bệnh. Bữa cơm cho bố đi làm. Mảnh vườn nắng đang khô hạn. Sớm chiều mẹ toàn những lo toan. Mẹ đi vào cõi vô tận. Nhẹ nhàng buông gánh trần gian. Nếu chia thân mình ra được, Thanh xin chia để mẹ sinh tồn. Nhưng trời không cho như thế. Thôi đành mang hình bóng mẹ, đi suốt cuộc đời.
Còn một điều Thanh không quên, đó là người đàn bà xứ quê, người đã đưa biếu mẹ chùm nhãn lồng Hương Yên. Mãi đến bây giờ, hương nhãn vẫn còn vương vấn đâu đây cùng dáng hình của mẹ.
 
 
 
CÁI NỢ ĐỒNG LẦN
 
 
Quán cà phê cạnh ngã ba đường. Vắng teo. Chỉ có bốn người. Cô chủ quán mập ú. Một ông khách không mập, không ốm, không thấp, không cao, có khuôn mặt ngựa , dài đuột. Một người không phải khách mà là một thợ sửa xe đạp, Không ai sửa. Ông ta kéo ghề quán ra ngồi cạnh đống đồ nghề. Một thân hình lực lưỡng, khoẻ mạnh. Cuối cùng là thằng bé bán vé số không đoán được tuổi vị mặt thì xạm đen, răng cỏ phô ra vàng khè, ở trần, ngực lép và chiếc tà lỏn phô ra cặp chân như cọng sậy.
Tập vé số chìa vô mặt ông khách ngồi trong quán:
-Mua vé số anh, còn có muời một tấm anh mùa giùm.
- Sao chỉ còn có mười một tấm…- Ông khách nhấm nhẳn.
-Dạ con bán gần hết rồi. Suốt sáng đến giờ chạy nháo nhào mới bán được đó thưa chú . Chú mua giùm nghe.
- Cô Cúc nè. Còn mười một tấm vé số. Số gánh không hè. Mua không , cô năm tấm, tôi sáu tấm. Mua không?
- Thôi dành hết cho anh đi, anh Qúy . Em chưa tới số đâu.
- Rồi. Chiều nay xổ trúng đừng có ân ận nghe. Nói thiệt với cô, tôi mà trúng số, tôi đốt quách cái quán cà phê này của cô, dựng cho cô cái qúan mới. Chịu không?
- Dóc tổ không hà. Trúng số anh lo cho anh đi. Một thân, một mình, bày đặt.
- Ê , một thân một mình cho sướng. Tay làm, hàm nhai, chẳng phải lo toan gì cho ai hết, thế không sướng hay sao. Mà thôi, đi đi mày, tao không mua nữa. Tạ từ những hy vọng hão huyền.
- Chú, chú mua giùm con đi mà.
- Tao đã nói không là không.
Thằng bé bán vé số nhận lại tập vé số và thủng thẳng quay ra đường. Hai chân như cọng sậy của nó cuốc trên đường vẻ như mệt mỏi.
Đuổi được thằng bé bán vé số đi rồi, Qúy lấy thêm chiếc ghế bỏ không,đặt ra trước mặt, duỗi thẳng hai chân lên chiếc ghế ấy và ngửa cổ nhìn đâu đâu ra ngã ba đường trước mặt. Gã muốn im lặng, nhưng cái miệng gã giống như có một sơi dây thần kinh kích động khiến gã lại phải lên tiếng:
 - Này, ông sửa xe đạp. Không có khách, vô uống cà phê nói dóc chơi.
- Anh gọi tôi là Tám. Còn anh là Qúy phải không?
- Phải. Ai không biết ông là Tám. Nhưng ông coi , cái xứ Nam bộ này có bao nhiêu người thứ Tám như ông. Kêu Tám nó lộn nhào hết lên, cứ ông sửa xe gọi cho tiện. Tôi hỏi ông, như ông và tôi bây giờ ai sướng hơn ai. Ông nói thử coi.
- Ông nói chuyện tào lao đâu. Tôi biết ông sao, ông biết tôi sao mà so sánh.
-Thì ông có vợ có con. Nghèo túng nên mới phải ngồi sửa xe kiếm tiền mà lo cho vợ cho con. Còn tôi hả. Một mình. Làm cái tiệm vẽ quảng cáo. Trúng một tấm biển, cắt được mấy tấm can đủ sống mấy ngày. Một mình có sướng không nào.
- Tôi cũng một mình.
- Trời đất. Xin lỗi ông nghe. Cô Cúc. Cô cho tôi ly cà phê đen nữa coi. Cho ông anh tôi một ly để tụi tui trò chuyện với nhau một bữa cho đã coi. Thiệt tình trời chẳng có mắt chút nào hết. Người như ông và tôi sao phải cô đơn chớ. Ông trỗ trượng, cao ráo , đẹp tướng thế kia mà một thân một mình thì lạ thiệt. Như tôi, ốm nhách, răng chìa thế này biểu gái nó chê không lấy làm chồng thì đã đành, còn ông thế kia. Thì lạ thực…
- Có gì đâu mà lạ anh Qúy.- Cô chủ quán xía ngang- Đời trước mấy người không nợ ai, thì kiếp này mấy người cũng chẳng nợ ai, có gì đâu lạ…
- Không phải vậy đâu cô chủ quán ơi.- Ông Tám cãi lại - Có người muốn mắc nợ mà không nợ được đó. Cô hiểu không?
-Nè, ông anh. Ông anh nói cái gì nghe lạ vậy. Trên đời này ai mà ngu tính đến chuyện mắc nợ chớ. Tôi thèm được học một lớp huấn luyện tham những quá. Ai mà mở lớp đó tôi theo học liền. Một cú thôi là sống cả đời…
- Học ngay tôi nè.
- Học ông?
- Không đáng để học sao?
- Cô Cúc , ổng nói vậy là sao?
- Thì ổng nói vậy là vậy chớ sao? Ổng mới ra khỏi nhà tù về cái thứ mà anh muốn học đó.
Qúy chợt hạ giọng, nói khẽ:
- Trời đất, có chuyện ấy sao. Mà sao cô không nho nhỏ cái miệng , cứ ong óng nói cái chuyện nhục nhã khổ sở của người ta ra chớ…
- Có sao đâu. Lúc Anh Tám ra ngồi nhờ trước quán cà phê này của em mà sửa xe, ảnh nói rõ rồi mà. Anh còn định làm cái biển: " hiệu sửa xe của kẻ tham nhũng đi tù về " nữa kìa. Em gàn hòai, ảnh mới thôi đó…
- Lạ thực, lạ thực. Anh Tám, anh tính làm vậy thiệt sao. Mà làm vậy để làm gì chớ.
- Đúng là không ai như tôi thiệt. Hết chiến tranh thì làm kinh tế. Làm kinh tế theo kiểu chiến tranh. Chiến tranh không dính miếng đạn nào. Làm kinh tế, thương trường bắn cái ẹo. Chết ngắc…
                Qúy ngồi nghe mà hai mắt trố tròn, chẳng hiểu cái gì. Gã gặng hỏi:
-Anh nói chuyện gì đâu đâu, tôi chẳng hiểu chút gì cả. Nói kỹ kỹ tôi nghe thử coi. Xem tôi có học anh được trang nào không?
- Anh có muốn ngu thì học. Nhưng không sao. Để tôi nói cho ông nghe. Ông có biết cái lúc mủ cao su bị hạ giá đến mức chót không? Từ hai ba ngàn một lít xuống không còn nổi một ngàn đồng một lít đó. Mà thôi, anh làm sao mà biết được. Lúc đó, không ai ngừơi ta đến xứ này mà mua mủ cao su hết. Phải mang bán sang Trung Quốc. Bán chui, ông hiểu không. Đi đường tiểu ngạch. Được cả chục chuyến chớ ít a. Đùng một cái, bên Trung Quốc nó cũng từ chối không nhận hàng nữa. Bạc tỷ trên một chuyến tầu biển. Bao nhiêu năm. Năm nào công ty cũng hòan thành nhiệm vụ. Năm nào cũng có lãi trong kinh doanh. Mà tòan lãi trên sổ sách không hà. Lỡ mà mất chuyến hàng kia, thì nó bung hết mọi chuyện ra. Chết cả đám. Chuyện làm ăn buôn bán của công ty tôi diễn ra phức tạp lắm. Món hàng nào lời thì là hàng của cá nhân. Cứ dán cái mác công ty mà buôn bán. Món hàng nào không lời thì của công ty. Công ty nhà nước mà. Lỗ đã có người bao. Nên, chuyến cao su đó không thể lỗ, cũng không được để tồn kho. Mẹ kiếp, tự nhiên cái đùng, tàu chìm… Chìm vì sao, tôi làm sao biết.
- Ông nói dóc. Thì nó không bị sóng đánh , cũng bị húc phải đá ngầm , chớ tự nhiên tầu chìm được ha?
- Nói dóc với anh làm gì chớ. Tàu nó chìm nghỉm dưới đáy biển đàng hoàng, dấu đi đâu được. Tôi được lệnh về ngay để xử lý. Xử lý gì đâu. Kêu tôi đi lo thủ tục bảo hiểm. Lo làm việc với thanh tra. Nhậu, nhậu liên miên. Những cuộc nhậu bạc triệu. Những chiếc phong bì mỏng tang, nhưng chất lượng cao. Mẹ kiếp thế là tôi vào dọ. Ba tội tất cả. Một: phó giám đốc kinh doanh , vô trách nhiệm làm chìm tầu. Hai, đưa hối lộ và ba, phi tang chứng của việc chìm tầu. Tội nào cũng ghê cả. Họ biểu tôi thế này:" Anh Tám. Anh hãy cứu lấy công ty, cứu lấy chúng tôi. Chúng tôi không để anh thiệt thòi đâu." Thì cứu, mã thựơng mà. Tám năm. Ông chánh án tuyên một câu thôi, tôi bị cách ly với cuộc sống xã hội tám năm trời. Buồn lắm. Nhưng không buồn bằng chuyện nhà. Vợ tôi lên thăm tôi ba lần. Lần thứ nhất đầy nước mắt. Lần thứ hai nhiều nước mắt hơn một chút. Đến lần thứ ba nước mắt tràn trề. Ở trại giam hôm ấy…
Ông Tám ngậm ngùi nhớ lại buổi sáng hôm ấy ở trại giam Cây Cầy. Có lẽ trong đời, chưa bao giờ Tám thấy người đàn bà có nhiều nước mắt đến như vậy.
Tám năn nỉ:
- Oanh, đừng khóc nữa em. Rồi anh sẽ được ra tù mà. Không lâu đâu. Anh sẽ cải tạo thực tốt để về với em. Với các con.
                        Oanh càng nức nở hơn:
- Anh có biết là em khổ lắm không?
- Biết, anh biết mà.
- Mà anh có biết là anh đã làm khổ em không ?
- Anh biết. Nhưng cũng đã có một thời gian anh cho em một cuộc sống sung túc kia mà.
- Cám ơn anh. Nhưng cuộc sống ấy nó giống như một giấc mơ. Vụt đến. Vụt đi. Anh có biết bây giờ ở nhà người ta nhìn em bằng con mắt ra sao không? Khinh rẻ và miệt thị. Có người nói ngay sau lưng em: "ăn cho đã vào bây giờ thế mới đáng"," Ngày xưa vợ thằng phó giám đốc , nay là vợ thằng tù"…Thế đấy, nhục nhã lắm…
- Thôi mà em. Em ráng chịu đựng một thời igian nữa đi. Anh về, ta sẽ làm lại mà…
 - Chịu đựng? chờ đợi ? Làm lại…Liệu em còn sức không anh Tám?
- Là sao?
- Em đã làm đơn sẵn rồi. Anh ký cho em đi.
- Đơn gì?
- Đơn xin ly hôn.
- Trời đất ơi. Ly hôn?
          Tám choáng váng , lặng đi ká lâu, mới lên tiếng được:
- Thôi được. Cơ sự này , anh cũng chẳng thể giữ em được nữa rồi. Anh ký, . Nhất định em phải để dứa con cho anh nuôi khi anh về. Nay mai anh về anh đón nó. Được không? Chắc em đã có người che chở rồi phải không?
-- Dạ. Anh thương em và rất thươnng thằng nhỏ con của chúng mình?
Tám la lên:
- Tôi cóc cần ai thương thằng nhỏ hết. Để đó cho tôi. Cô rõ không?
Anh công an giật mình, nhắc:
- “Một trăm tám lăm” ! Yêu cầu giữ đúng thái độ.
Tám bối rối:
-          Thưa cán bộ. Em xin lỗi
Nhưng vẫn còn chút chua cay, Tám Nói tiếp với Oanh, giọng cay nghiệt:
- Đời chó đến thế là cùng. Thôi cô về đi. Đủ rồi. Nhớ không được đưa thằng con tôi đi đâu hết. Cô mà mang nó đi, tôi về coi chừng tôi. Nghe rõ chưa.
                Mọi thất bại, Tám không mấy băn khoăn. Tám kể tiếp:
- Tôi về. Chiếc khoá cửa nhà sét rỉ vì lâu ngày không ai mở. Mở cửa vào. Trong nhà trống bóc không còn bất cứ một thứ gì ngoài một chiếc giường con, mấy cái nồi con và chiếc nệm mốc meo. Còn những chiếc vỏ chai rượu ngoại, những vỏ lon bia, dấu vết của một thời hoàng kim đã mốc meo. Cô ta lấy sạch sẽ mọi thứ. Buồn và chán. Nhưng phải sống chớ. Tôi tìm về cơ quan cũ. Vẫn thằng cha giám đốc ấy. Hắn cố ý để lộ ra trước mặt tôi một cái thông báo tuyển dụng. Trẻ nè. Có bằng đai học nè. Có ngoại ngữ nữa. Một anh bộ đội kháng chiến tuổi ngoài bốn mươi. Với tấm thông báo tuyển dụng kia thì tôi thành một lão khọm già. Tôi làm gì có bằng. Đi đánh giặc rồi về làm kinh tế, đâu có kịp học hành gì. Ngoại ngữ , may ra biết được vài tiếng Miên. Không, nhiều là đằng khác. Mấy năm trời làm quân tình nguyện bên đó, chữ viết được, tiếng nói được. Nhưng có ai xếp tiếng Miên là ngoại ngữ cần dùng đâu. Tôi biết thân phận tôi, nên chẳng dám ngỏ lời xin trở lại làm việc nữa. Thằng cha giám đốc còn lấy ra một xấp tiền. Giọng hắn giả lả: " Dẫu sao chúng tôi cũng vẫn phải cám ơn anh. Anh đã hy sinh để cứu cho công ty còn tồn tại đến hôm nay. Thôi anh cầm số tiền này về làm vốn lo làm ăn…" Mẹ kiếp, cứu công ty nào, cứu hắn thì có." Hắn vẫn ngồi đó ung dung. Trong khi đó, chìm tàu cũng hắn, bày đặt chuyện hối lộ cũng hắn…Tôi cầm xấp tiền quăng vào mặt hắn và về…
Qúy la lên:
- Lại sĩ diện nữa. Kệ mẹ nó, cứ cầm về ngu gì ném lại. Tiền chớ giấy lộn sao?
- Nhục lắm, ông hiểu không? Đã chôn vuì được thì chôn vùi cho xong. Nhưng nghĩ ức quá, tôi mới ra đây ngồi sửa xe đạp nè. Ngày chỉ cần hai lần thôi, đủ mua gạo ăn rồi. Khỏi cần.
Cô Cúc chủ quán lại xen chuyện:
-Khỏi cần, anh nói dóc, anh Tám. Anh còn độc địa hơn người ta tưởng nhiều. Chỗ này là con đường ra vào nhà của lão giám đốc cũ của anh phải không? Mỗi ngày laõ giám đốc đi làm qua lại đây ít nhất là bốn lần đúng không? Mỗi lần lão đi qua là anh ngả mũ chào lão. Có đúng không nào? Rồi anh làm lão phát điên vì sự giả dối của lão cho mà coi. Xem ra lão còn nợ anh nhiều lắm đó?
                Tám nhếch mép cười:
 - Nợ đồng lần mà cô.
Qúy bỗng co rúm người lại. Nợ đồng lần, có phải vậy không? Ông Tám ơi, xem ra ông còn thảnh thơi hơn tôi nhiều. Hôm nay, cái miệng ngựa của tôi cứ phải kiếm chuyện để nói. Tôi sợ những phút lặng câm. Dẫu sao ông cũng là người có tội với dân với nước. Những ông đã đền tọi bằng những năm tháng tù đầy. Còn tôi nè. Nghe chuyện ông mà tôi thấy mình thiệt tội lỗi. Hễ cái miệng tôi không nói là trong tôi lại vang lên những tiếng gào thét đòi nợ. Ông Tám nghe thử , liệu như ông, ông sẽ thế nào?
Tiếng vọng của người đàn bà thứ nhất:
- Anh Qúy. Ngày còn sinh viên, tôi mê những vần thơ của anh. Tôi đã phải dối lừa cha mẹ tôi lấy tiền cho anh in thơ. Cái thời ông hàng thịt muốn thành nhà thơ thì bỏ tiền ra in thơ, thì những vần thơ tình ái của anh cũng còn sạch sẽ lắm. Tôi cho anh tiền in thơ. Anh muốn mời bạn bè để ra mắt tập thơ. Tôi lo. Anh uống bia đến xỉn quắc cần câu. Anh lăn xả vào tôi, vần tôi như vần một con heo. Tôi mang cả tấm thân trình trắng của tôi dâng hiến cho anh. Anh tưởng anh thành nhà thơ thưc nên anh ruồng rẫy tôi. Anh ói đến mật xanh, mật vàng. Nhớt dãi vấy vá lên cả cái thân xác trần truồng của tôi. Tôi hỏi, anh biểu: Anh kinh tởm thơ anh. Anh đã cưỡng hiếp thơ , còn tôi anh bảo là đã cưỡng hiếp anh. Anh trả tôi tấm thân trình trắng kia đi. Trả được không, trả được không anh Qúy?
                      Còn đây nữa nè, ông Tám:
Tiếng vọng của người đàn bà thứ hai:
-Tôi thương anh trốn chui , trốn nhủi về nông thôn để tránh né pháp luật. Tôi biết anh đi làm báo nhưng chuyên làm quảng cáo. Anh nhận tiền của những kẻ llừa đảo để quảng cáo cho họ. Họ vào tù còn anh trốn lên quê tôi kiếm sống. Cha tôi thấy anh có học, cho anh làm công tác văn hoá. Ai biểu anh đọc thơ hay để lòng tôi xao xuyến. Để tôi chẳng tiếc gì hết. Cho anh từ đồng vốn ít ỏi của người con gái lỡ thì. Cho anh cả cái thân xác không còn bốc lửa nhưng vẫn sạch sẽ của tôi. Vậy mà anh đang tâm bỏ trốn khỏi tôi. Anh có trả được tất cả những gì tôi đã cho anh không? Trả được không, anh Qúy.?…
 Bỗng nhiên Qúy gục đầu xuống, nhẫn nhục. Những tiếng vọng kia lâu lâu lại trỗi dậy trong đầu gã. Gã đã có vợ. Ngaỳ ấy, khi thấy mình không thể theo nghiệp thơ phú được. Gã đã chọn nghề làm báo. Gã chẳng viết được một bài báo nào cho ra hồn. Nhưng với cái miệng của gã, gã có thể moi tiền từ túi các ông chủ cho những trang quảng cáo. Không ai thoát được gã. Chỉ cần những ông chủ mở cửa phòng khách cho gã là gã có thể moi móc được cả chục triệu đồng cho những trang quảng cáo. Gã làm tất cả miễn là có tiền. Ngày ấy, gã đã có nhiều tiền. Gã cưới vợ. Một cô vợ xinh xắn làm nghề vẽ các loại nhãn hiệu. Gã mua nhà, và bắt cô ta ở nhà phục vụ gã. Gã biến một cô hoạ sĩ đồ họa công nghiệp thành một thứ con ở. Gã có tiền mà. Vụ án lừa đảo huy động vốn mấy chục tỷ đồng ở thành phố làm chấn động dư luận cả nước, gã cũng có tên trong danh sách điều tra. Vây mà cho đến ngày kẻ lừa đảo bị bắt rồi, gã vẫn lấy được của hắn mấy chục ngàn đo-la tiền thuê cải chính cho hắn, bằng quảng cáo. Hắn bị bắt, sợ quá, gã nộp toàn bộ số tiền đã nhận của hắn và bỏ trốn đi. Lên tận một vùng quê biên giới. Được nghe gã tự giới thiệu đã từng là một nhà báo, chính quyền xã cho hắn một chân trực trạm truyền thanh với những đồng trợ cấp ít ỏi. Ở đấy, gã đã gặp cô con gái của ông phó chủ tịch xã. Cô gái lỡ thì ấy thì thương gã thực lòng, còn gã thì chờ thời. Vụ án êm đi. Kẻ bị lừa đảo đã ngồi gỡ lịch ở trại giam. Gã tìm về nhà, bằng những đồng tiền của cô gái con ông phó chủ tịch xã kia.
Tiếng gõ gõ cửa, ban đầu nhẹ nhàng ba bốn tiếng. Sau mạnh hơn. Càng sau càng mãnh liệt. Gã gọi:
- Kim ơi. Kim. Mở cửa cho anh. Mở cửa cha anh. Anh về nè. Qúy, chồng em đã về nè.
 Có tiềng xì xào trong nhà.
Tiếng đàn bà:
- Chết rồi anh ơi. Hắn về
Tiếng đàn ông:
- Hắn nào? Hắn là ai?
Tiếng đàn bà:
- Qúy, chồng em chớ còn ai nữa?
Tiếng đàn ông:
- Cái thằng lừa đảo trốn tránh đó mà em còn gọi nó là chồng sao?
Tiếng đàn bà:
- Thì em biết gọi là gì bây giờ. Dù sao trước pháp luật, hắn vẫn là chồng em mà. Chúng em đã ly dị đâu.
Tiếng đàn ông:
- Không cần em phải nói đến chuyện đó. Từ khi anh đến với em anh đã biết đến chuyện đó rồi. Nhưng anh chấp nhận. Mặc kệ hắn. Hắn chẳng qua cũng chỉ là kẻ hèn nhát mà thôi. Hắn đã cho em được cái gì nào. Hay hắn biến em thành một thứ búp bê xinh xắn. Một thứ búp bê biết gọi dạ, bảo vâng. Biết nấu cơm quét nhà. Biết lau mặt rửa chân cho hắn. Hắn có còn coi em là con người hay không?
 Tiếng đạp cửa mạnh, tiếng người đàn bà rú lên.
Gã nhảy vào nhà, miệng hét lên:
- Thằng khốn nạn. Mày vừa nói cái gì đó, máy nói lại tao nghe coi.
Người đàn ông, gân guốc, ở trần nhìn gã lo, lom:
- Thì ra anh cũng có gan đạp cửa mà vào hả? Anh muốn tôi nhắc lại phải không? Mà thôi, tôi không cần phải nhắc lại làm gì. Anh thế nào tự anh biết. Vì sao anh còn về đây?
- Đây là nhà tao. Tao có quyền về.
- Thế còn đây là ai ?
- Vợ tao.
- Vợ anh. Hay là con ở của anh. Hay anh đã biến cô ta thành thần giữ của cho anh. Vợ anh. Vậy từ mấy năm nay anh biết vợ anh sống ra sao không? Thất nghiệp. Không xin được việc làm. Đi lượm bọc mủ kiếm sống. Anh biết không? Thôi được anh biểu nhà này là của anh. Thì trả cho anh. Còn em. Em đi theo anh. Mặc kệ hắn với căn nhà của hắn. Đi em.
- Không. Tao cấm không được đứa nào bước ra khỏi cửa. Kim. Em trả lời anh đi. Em sẽ thế nào hả?
-Anh có cho em chọn không?
- Được em chọn đi.
 - Anh cho em nói thực chớ?
- Nói.
- Em không thể nào sống với anh được nữa. Dù có sống với anh thì em cũng suốt ngày thui thủi một mình. Anh giết chết em kể từ khi anh bắt em ở nhà hầu hạ anh rồi. Từ ngày anh trốn đi. Em thanh thản lắm. Thì ra em chẳng cần đến anh một chút nào cả. Anh lo kiếm tiền. Anh lo phủ tiền lên người em. Nhưng con người em chẳng còn là cái gì hết. Anh cho em chọn phải không? Em chọn em. En chọn cho em cái gì em thích. Thế đấy. Bây giờ thì em đi. Anh hãy ở lại đây. Ở lại thử coi, xem thử cô đơn nó khổ sở như thế nào…
- Khoan. Em đừng đi. Em cứ ở lại đây. Anh … anh mới là người phải ra đi. Đúng rồi. Bấy lâu này anh chỉ biết có anh thôi. Anh đi là đúng hơn cả. Còn anh, anh phán xét tôi như vậy đúng đó. Để tôi đi… Ít nhất cũng để trong đời tôi có được một hành động dũng cảm. Kim, anh mắc nợ em nhiều quá. Em coi đây là một sự trả nợ cho em được không, Kim. Được không Kim…
*
*       *
Cả hai gã đàn ông sau khi kể xong hết mọi chuyện đời mình rồi, bỗng nín lặng. Cô chủ quán buồn tình, nhớm giọng:
 -Nè hai anh. Khi không hai anh bầy đặt kể khổ, kê sướng ở quán em là sao?
Qúy nói như nhá từng chữ một:
- Mấy khi có người chịu nghe chuyện mình đâu cô. Giả như anh Tám không muốn nghe chuyện tôi, tôi nào dám kể. Mà khi tôi không nghe, hỏi anh Tám kể với ai. Nói thiệt kể ra được, tôi nhẹ cả người.
- Nhưng anh bỏ nhà đi thiệt hả. Không lẽ anh không đuổi được tình nhân của vợ mình ra khỏi nhà hay sao?
- Cô tính đuổi được không? Đuổi nhất định là hắn đi rồi. Nhưng nhất định vợ tôi sẽ cùng đi với hắn. Mà vợ đã đi rồi thì tôi còn nghĩa lý gì khi sống trong nhà ấy. Thôi thì mình rút đi. Để cuối cùng cô ấy có chỗ mà sống. Tôi cho đấy là một lần trả nợ thôi mà.
- Anh thiệt chẳng hiểu quái gì về nợ cả. Anh có thể trả tất cả mọi thứ nợ về tiền bạc. Nhưng nợ tình, anh chết cũng không trả hết được đâu anh Qúy ơi.
Qúy quay sang ông Tám:
- Anh Tám , có phải thế không anh Tám.
Không có tiếng trả lời.
Cô chủ quán nói khẽ với Qúy:
-Đừng hỏi anh ấy lúc này. Sắp đến giờ lão giám đốc về qua đây rồi đó. Bao giờ cũng vậy, hễ lão giám đốc về qua đây anh Tám cũng như vậy. Đợi cho đến khi chiếc xe hơi đưa lão giám đốc qua là anh ấy bước ra, đứng ở ven đường. Chiếc xe của lão giám đốc trờ tới, bao giờ anh ấy cũng dơ tay chào và mỉm cười. Lát nữa anh sẽ thấy. Nụ cười anh á6y khác người lắm. Nó nhạt nhẽo và chua xót. Nó châm biếm và xoi mói. Nó cay nghiệt và đau khổ. Chỉ một cái nhếch mép thôi mà thấy được tất cả. Anh Qúy ạ.
Quý buông một câu như lời phán xét:
- Cái lão giám đốc ấy mắc nợ rồi. Không nợ tiền , không nợ tình như tôi mà nợ cả nhân phẩm của một con người. Nợ này lão làm sao trả được đây.
Tiếng của hai người nghe rất khẽ, nhưng cũng không lọt qua tai của ông Tám. Cô lầm rồi cô Cúc ơi. Anh cũng lầm rồi anh Qúy ơi. Kể xong được câu chuyện trớ trêu của đời mình , lòng tôi đã thanh thản trở lại. Tôi chẳng còn ghét ai, giận hờn ai nữa.
 
TRĂNG CUỐI THÁNG  
 
Chuyện chỉ diễn ra có một lần trong đời,
 nhưng đầy đủ cho cái gọi là hạnh phúc
 
Bây giờ thì ông chỉ còn có một mình. Một mình trong căn nhà bé như cái hộp diêm quẹt. Bà ấy không đến, và ông cũng không đi tìm bà. Giữa hai người đã một lần, và chỉ có một lần bừng cuộn lên, nhưng rồi lại lắng xuống một hòn đá ném xuống mặt ao, làm cho nó cuộn lên, nhưng khi những vòng tròn xoáy nước khép lại, thì mặt ao lại phẳng lặng như tờ. Lâu lâu có ngọn gió thổi qua, mặt ao dềnh lên chút ít nhưng cũng đủ gợn lên những con sóng, nhấp nhô, nhấp nhô.
                Ông thắp nhang lên bàn thờ. Mỗi ngày ông thắp một nén, loại nhang thơm. Không biết có khi nào ông có thể quên thắp nhang không. Nhưng đã thành quen rồi, đêm khi đi ngủ ông không thể thiếu mùi nhang toả ra từ trên bàn thờ. Có những lúc ông nghĩ, ông đang thắp nhang cho chính mình. Thì thế, mình chưa chết mà thấy được những đốm nhang lập loè, hương nhang lan toả, thần bí. Như cõi thiên đàng, như chốn chỉ thần tiên mới có quyền được sống.  Lại có lúc ông tưởng như đang thắp nhang cho một mối tình tưởng còn mà mất, tưởng mất mà còn và tưởng có mà không. Một đời người chỉ thế thôi ư. Ngày nào còn tươi trẻ là thế, nay đã nắng quái chiều hôm. Gắt gao đấy nhưng ngày đang tàn dần. Ong nhớ bà, nhưng hình như cái nhớ nó cũng khác ngày xưa khi còn trẻ. Khi còn trẻ, nhớ ai thì nhớ cồn cào, da diết và chỉ có nhớ người đó mà thôi. Nay nỗi nhớ cứ bị xen vào bởi những suy nghĩ khác. Nhớ mà chẳng đắm đuối chút nào. Nó cứ vẩn vẩn, vơ vơ, không như thời trai trẻ. Thèm gặp đấy nhưng rồi chợt nghĩ đến chuyện khác thế là lại quên. Nhớ cũng vô tình mà nhớ, và quên cũng vô tình mà quên.
                Khi không lúc này mà còn gặp nhau. Trời sắp đặt đấy. Chớ cái tuổi ăn phải cái gì cưng cứng là phải trệu qua, trạo lại, mấy ai còn nghĩ đến chuyện yêu đương. Vậy mà yêu đương mới lạ.
                Bữa đó, ông buồn, ông cô đơn. Đâu có phải đến khi đó ông mới buồn, mới cô đơn. Lần cuối cùng ông có gia đình cách nay đã hơn mười năm. Sau một cuộc cãi lộn với người đàn bà mà ông để gần hết một đời người cung phụng, ông đã ra đi. Cuộc cãi lộn không lớn nhưng ông bị xúc phạm. Người ta biểu rằng ông chỉ là thứ người vô tích sự. Người ta biểu ông không lo toan được gì cho gia đình, cả một đời ăn bám. Ông đã ra đi sau một đêm trằn trọc. Và cuối cùng thì người ta ném vào mặt ông một câu: ông bây giờ thừa ra rồi. Thì ông đi, ông tự cắt bỏ sự thừa thãi là mình, ra khỏi cái nơi một thời ông gắn bó, giống như người ta tự nguyện lên bàn mổ, cắt đi khúc ruột dư ra khỏi cơ thể mình. Không lẽ ngồi để mà kể ra với người đàn ông đã làm ra những cái gì cho gia đình tồn tại ngần ấy năm trời.
                Đi với hai bàn tay gần như trống trơn. Bạn bè chỉ cho ông một căn phòng nhỏ, vốn là nhà tập thể ở một cơ quan nào đó. Ông bỏ những đồng tiền cuối cùng để mua căn phòng và làm lại từ đầu trong căn phòng chỉ có mười sáu mét vuông kia. Làm lại từ đầu cho riêng mình thôi, chớ chẳng dại dột gì mà kháp với người đàn bà khác. Đàn bà họ có thế mạnh của họ. Thường trong những cuộc tình, lúc ban đầu thì quyền quyến rũ là của đàn ông, quyến rũ xong, quyền chủ động bắt đầu chuyển sang cho đàn bà. Người đàn bà muốn sờ mó đến từng công việc dù là rất nhỏ của người đàn ông. Họ cho họ cái quyền như vậy. Anh đi đâu? Anh làm gì ở chỗ nào? Lương anh có bao nhiêu. Anh mang làm gì nhiều tiền trong túi thế? Sao người ta điện cho anh ngoài cơ quan mà không thấy, giờ đó anh làm gì ở đâu?… Hằng trăm câu hỏi mỗi ngày. Trả lời kiểu nào cũng không thoả mãn được người hỏi. Khi im đừng trả lời nữa cũng không được. Người ta sẽ biểu: làm sao tôi có thể sống được trong căn nhà cứ im lặng như nhà mồ thế này. Có người mong chế ra được một sợi chỉ vô hình, cột vào chân người đàn ông, để đàn ông đi đâu, đàn bà cũng có thể tìm thấy được nhờ sợi chỉ đó. Nên ông thề cuối đời ông sẽ ở một mình, nhất định là một mình, mấy đứa con gả vợ, dựng chồng hết rồi. Một lũ cháu nội ngoại lúc nào thích thì đến thăm ông, không thích thì thôi. Nhà cửa tài sản ông đã để lại hết, không đòi cho mình cái gì, từ chối luôn phần thừa kế, khiến ông chẳng còn nợ ai và cũng chẳng bắt ai phải nợ gì. Có người khuyên ông ly hôn để để tạo dựng cuộc sống khác, ông cười: ngần này tuổi rồi, đưa nhau ra toà giống con nít bày đặt chuyện làm nư quá.
                Một hôm, đang ngồi uống cà phê thì có một đứa trẻ bán vé số cứ bám lấy ông. Nó dai dẳng mời ông mua dùm một tấm. Để thoát khỏi sự mè nheo của thằng bé, ông mua một tấm và ông trúng. Năm mươi triệu đồng, trừ hết năm triệu đồng thuế thu nhập, còn lại ông chia làm hai. Một nửa gởi về cho bà vợ vì ông biết, nếu không gởi về thì người ta cũng cho người tới hoặc có khi chính bà ta sẽ đến. Phiền lắm. Đồng tiền đi trước, là đồng tiền khôn. Giữ bên mình, người ta đến nói chuyện tình, chuyện nghĩa, rồi nợ không chỉ tính bằng tiền, trả không bao giờ hết. Có người biểu ông dại dột, ly thân rồi thì thôi đi, mất công gì mà lo hoài. Ông trả lời: đời người ta nhiều khi bị trói bằng một sợi dây vô hình, khó cởi lắm. Ngày xưa vợ chồng ông về sống với nhau không cần đến mảnh giấy hôn thú, nhưng không phải vì không giấy mà không sinh con, đẻ cái với nhau. Sinh con và sinh ra của. Sinh xong con, sinh xong của bắt đầu sinh đến tội, sinh nợ. Mà các cụ đã dạy rồi: nhất tội, nhì nợ. Tội và nợ chỉ một trong hai cái thôi cũng chết rồi. Tội thì ông nhiều vô kể. Chỉ cần một lần bà vợ nổi đoá lên là ông gánh không biết bao nhiêu là tội. Tội đối xử với vợ con không ra gì. Tội không biết chăm lo gia đình. Tội coi trọng người ngoài không coi trọng người trong nhà. Tội nặng nhất là lúc nào cũng dấu dấu, diếm diếm tiền bạc cho con đĩ ngựa nào. Thêm cả tội đi lên giường bất lực nữa. Thì ngày xưa, tức là khi còn trẻ ấy, ngày nào cũng có, thậm chí có ngày tới hai, ba lần, sao bây giờ – tức là lúc tóc đã bạc muối tiêu rồi ấy- sao cả tuần, có khi nửa tháng mới có một lần, đem đổ đi đâu hết rồi. Ông mang sách ra giải thích, ông viện dẫn cả đến khoa học tình dục, xong cũng không có được sự giải đáp thoả đáng. Thế các cụ biểu: càng già, càng dẻo, càng dai là các cụ điên hả. Đúc kết cả ngàn đời các cụ đấy. Người ta lý sự như thế là ông thua rồi còn gì. Trong mọi thứ tội, tội bất lực là nặng nhất. Thứ đến là nợ. Nợ vô kể. Ngày xưa khi mới yêu ông hứa thế này, sao bây giờ không có. Cả một đời chung sống với ông chưa bao giờ ông cho tôi một chuyến đi coi một đại nhạc hội. Hình như ông không muốn đi chung với tôi. Bữa tôi đau bệnh, nhờ ông đi kêu dùm người về làm móng tay, ông cũng chẳng chịu đi cho. Bữa ông tặng tôi một cái áo dài, tôi muốn có thêm một sợi dây chuyền nhỏ thôi, đeo cho nó hợp với cái áo, tôi nói ra miệng thế rồi ông làm lơ không biết… Nhưng thế vẫn chưa hết. Nợ nhiều nhất là nước mắt. Mỗi lần đụng chuyện là có nước mắt, làm như ông là kẻ đốn mạt gây ra bao nhiêu nỗi oan trái trên đời này cho người ta. Ông sợ cả tội và ông ngán cả nợ, nên ông mới một mình.
                Và ông cứ làm theo ý ông, có nghĩa là chia tiền vé trúng số làm hai. Một nửa gói lại gởi về cái nhà mà ông đã bỏ ra đi. Nửa kia ông chia làm ba. Hai phần để mua vài thứ cần thiết cho người độc thân. Lát gạch lại cái nền nhà cho sạch sẽ. Mua một cái nệm nằm cho đỡ đau lưng. Tút lại cái xe chạy cho êm máy. Phần còn lại ông chuyển vào quỹ tế bần, để chuyển cho những người cũng cô quả, nhưng nghèo khó hơn ông. Ông cũng không quên dành cho thằng bé bán vé số một chút, thần tài lúc cuối đời ông mà. Nên ông có căn phòng bây giờ đang ở, tuy nhỏ như hộp diêm quẹt, nhưng sạch sẽ. Có lúc ông tính biến cái phòng mình thành cái am, rước tượng đức Phật về hằng ngày tụng kinh gõ mõ. Nhưng nghĩ lại, ông không muốn mình tự ghép mình vào sự khắc khổ, nên thôi. Vả lại, phòng này liền vách phòng kia, tụng kinh thì phải gõ mõ, gõ chuông, bất tiện lắm. Để cho mọi người xung quanh sống yên ắng có khi lại là sự ban phước không chừng.
                Vậy là ông cô đơn và buồn đã hơn mười năm trời. Thử nghĩ coi, có một mình. Ra một mình, vô một mình. Làm cái gì cũng một mình. Những lúc tủi thân khóc một mình và có những lúc chợt nghĩ ra chuyện đáng cười, thế là cười một mình, giống y như thằng điên vậy. Hồi đầu tiên ra ở một mình ông hoảng lắm. Không phải hoảng vì lo thiếu ăn, thiếu mặc mà hoảng vì thiếu tất cả những gì vốn có của mấy chục năm trời trong căn nhà cũ. Thì bà ấy cũng quá đáng thực đấy, lúc nào cũng muốn nhảy lên đầu ông bà mà dạy bảo. Có lúc nghĩ cũng phì cười. Đàn bà không lo dạy con mà cứ lo dạy chồng. Con thì bắt chồng dạy bảo. Còn vợ thì bao giờ cũng cao hơn một bậc, dạy khôn chồng từng nết ăn, nết ở, từng câu nói, ráng đi. Toàn là chuyện lớn. Khi đụng chuyện ngoài cơ quan: thế sao anh không nói như thế này, nói như thế kia cho người ta hiểu. Một lũ người ngu như thế mà anh chịu sao. Chuyện nhà phải đi lo cũng: anh nói như thế này, như thế kia nghe. Phải mở đầu như thế này, rồi kết luận như thế kia. Mà làm đúng như thế thì cần gì phải ông đi. Hoặc máy móc hơn thì xắm cái máy nghe băng, ghi hết những lời bà ấy lại, khi gặp người ta chỉ việc mở máy, chớ cần gì đến cái miệng của ông. Ơ kìa, ông đâu phải là người ngu, có khi có trong tay cả chục người, ông chỉ ai làm việc gì, người ấy làm tăm tắp, sao cứ bị coi là ngớ ngẩn để vợ dạy bảo từng ly, từng tý một. Khi vợ nạt lên: anh là đồ ngu, thì ông không chịu nổi nữa. Không lẽ mấy chục năm trời sống với nhau, bà vợ cũng chỉ coi ông là một thứ ngu xuẩn thôi sao. Ông đi không tiếc nuối. Nhưng còn lũ con, lũ cháu. Bữa ông quyết chí ra đi đứa cháu nội gái lăn vào lòng ông mà khóc. Nó đòi nghỉ học theo ông. Còn thằng cháu nội thì vác cái cây đứng ngáng ngoài cửa. Nó tưởng ông nó cũng bằng tuổi nó, nên nó tính lấy cây hù ông, không cho ông ra khỏi nhà. Nhưng ông vẫn phải ra đi và bây giờ ông phải một mình. Những lúc phải nghĩ ngợi nhiều, ông tự vấn mình: hay mình ngu thực. Làm cho đã rồi để hai tay không. Nếu không có tờ vé số, không biết ông sẽ sống như thế nào. Ấy là lúc ông buồn. Còn những lúc khác thì ông tự cho là mình thông minh. Một mình… Một mình ra, một mình vào, một mình với nồi cơm, tô canh. Một mình khoả thân lang thang trong cái khoảng trời tự do mênh mông mười sáu mét vuông của riêng mình…
                Trở lại bữa ông buồn nhất, và cô đơn nhất. Ông bới đống giấy tờ mốc meo của mình ra sắp xếp lại. Cho có việc, cho đỡ nghĩ ngợi lung tung thôi. Không dè trong đó rớt ra một mảnh giấy đã vàng úa, bé bằng bàn tay, trong đó nguệch ngoạc mấy con số của một máy điện thoại nào đó. Ông nâng nó trên tay. Của ai vậy cà? Của ai mà ông cất giữ kỹ đến như thế. Cất kỹ đến nỗi quên luôn. Bỗng nhiên ông nảy ra ý nghĩ, thì cứ gọi thử xem. Một người bạn cũ chẳng hạn. Một người có thể chịu ngồi nghe những chuyện tầm phào cho đỡ cô đơn.
- A lô. Xin lỗi ai gọi đó.
Giọng nói của một người đàn bà có lẽ còn trẻ.
- Xin lỗi… Xin lỗi bà. Chuyện là thế này. Bỗng nhiên tôi có số điện thoại này. Tôi nghĩ mãi mà không biết là điện thoại của ai. Nên tôi gọi, xin lỗi bà, bà là ai đấy.
 Có tiếng cười khúc khích bên kia đầu dây:
- Hay quá và lạ nữa. Ông gọi điện thoại mà không biết gọi cho ai sao. Đầu ông có bị làm sao không đấy?
- Mong bà thông cảm. Tôi đang không có người để nói chuyện, tôi mong từ số điện thoại này mà tôi kiếm được người quen chăng? Tôi cảm phiền bà… Xin lỗi bà. Tôi xin phép gác máy… Đừng trách tôi lẩm cẩm nghe bà…
- Khoan, ông đừng gác máy vội. Ông biểu ông có số điện thoại này trong tay?
- Dạ…
- Và do chính tay ông ghi?
- Dạ…
- Ông có nhớ trong trường hợp nào không?
- Thưa không?
- Để tôi nhắc thử xem ông có nhớ ra không nghe?
- Dạ.
- Tôi là…
- … Phải, bà có phải là…
- Đúng rồi… Vậy ông là…
- Một công chức nho nhỏ, một anh chàng hay đùa cợt, một kẻ mà ai cũng biểu làm phách… Bà có nhận ra ai không?
- Rồi… Nhận ra rồi… A ơ ờ…
- Phải rồi, tôi biểu tôi sẽ đến thăm bà. Nhưng chẳng biết bà ở đâu, không biết bà rảnh lúc nào và hình như cả tôi và bà đều không có nhu cầu thăm nhau. Thế mà bà đọc cho tôi ghi lại số điện thoại này… Phải rồi… Mình còn hẹn nếu không gặp nhau được thì gọi điện thoại cho nhau. Hôm ấy chúng ta toàn nói chuyện quá khứ. Chỉ thỉnh thoảng nhắc chuyện ngày nay. Bà biểu tôi, có những số liệu của hôm nay nhưng lại rất cần cho việc tìm về quá khứ?
- Còn ông thì biểu, quá khứ tạo nền cho tương lai, ông dặn tôi khi nào cần ông sẽ điện thoại nghe tôi kể chuyện về quá khứ của vùng đất ấy. Vậy mà ông không gọi lần nào. Mấy năm rồi há?
- Hơn chục năm mấy rồi, phải không bà?
Hồi đó hình như hai người còn trẻ. Ông bất giác đưa tay vuốt mái tóc mình. Mấy cọng tóc bạc vương trên đầu ngón tay. Chao ôi, bây giờ được gặp người phía đầu dây bên kia thì hay biết mấy. Ông lựa lời buông mấy câu lỡm lờ. Bên kia bà lỡm lờ hỏi lại. Hỏi lại, hỏi qua, và…
Rồi hai người đưa nhau đi uống cà phê. Mỗi người một chiếc xe và họ lạc lõng giữa một quán cà phê, giữa những cặp tình nhân trẻ trung mặc kệ xung quanh, hôn nhau quấn quýt và nhạc thì ầm ầm như quát vào tai. Một quán cà phê chỉ dành cho những người còn trẻ. Một góc riêng, chỉ hai chiếc ghế bố, một chiếc bàn con và một bóng đèn thiệt nhỏ, toả ánh sáng thật yếu đủ để hai người có thể nhìn thấy nhau. Túp lều mái lá dừa nước, vây xung quanh bằng những tấm bố mủ, kín mít. Bà thì thầm: “ Sao ông đưa tôi vào đây”. Ông thì thầm: “ Tôi không muốn ai nhìn thấy chúng mình.” Bà thì thầm: “ Nhưng kỳ thấy mồ.” Ông thì thầm: “ Có gì đâu mà kỳ. Thì mình cũng như…”. Bà thì thầm: “ Ông muốn nói chư bao cặp tình nhân khác… Ông gian quá đấy.” Ông thì thầm: “ Gian dối gì đâu, biết đâu sau này chúng mình không còn gặp nhau nữa thì sao? Mà đừng gọi tôi là ông nữa, già lắm hả?” . Bà thì thầm: “ Già thì chưa già, nhưng sắp… lên lão. Mà thôi “anh” cũng được. Tôi cũng không muốn… anh gọi tôi bằng bà, nghe ghê chết…”. Hai người khúc khích thì thầm trong lúc chờ cô bé phục vụ mang cà phê đến…
Bà không ở một mình như ông mà có tới mấy đứa con. Một tay bà nuôi mấy đứa con trong cả chục năm trời. Khi ấy thì chúng còn nhỏ, giờ lớn hết cả rồi. Mới chỉ có một đứa đã đi lấy chồng, có cháu gọi là ngoại. Bà nói thực với ông, bà buồn nhất là vào những đêm giao thừa. Đã cả chục năm rồi giao thừa nào bà cũng có một mình. Buồn thực buồn. Những đứa con ngày nhỏ nó đeo lấy vú mà bú, bú đến rát ruột. Nhưng khi không cho nó bú nữa thì hễ tay nó đụng đến vú bà, là bà nhột nhạt cả người, ốc ác nổi lên như gai mít. Mà bây giờ chúng lớn hết rồi, có đứa nào còn tơ tưởng đến hơi hám người bà nữa đâu. Bà cũng đã nhiều năm, không vòng tay ôm ấp. Buồn đến chao chát của đời bà là những đêm giao thừa. Cả chục năm nay rồi. Khi đốt xong nén nhang lên bàn thờ, trong khi những sợi khói ẻo lả bay lên, khi mùi nhang toả bay phảng phất vào đêm giao thừa, sau khi lẩm bẩm mời ông bà tổ tiên về ăn tết, bà mong sẽ có một ai đó, ngồi đối diện với bà trong cái đêm cuối năm. Có thể là một ly rượu, có thể là một củ kiệu nhỏ, một con tôm khô, có thể là một miếng bánh tét người này chia vào chén người kia sẽ hạnh phúc biết mấy. Một ai đó… cả chục năm nay, cũng không có, cũng không có…và có thể chẳng bao giờ có nữa. Một ai đó trong đêm giao thừa với bà. Bà đã nghe cô bạn gái kể cho nghe: vào đêm giao thừa, sau khi làm hết những công việc linh thiêng với ông bà, trời đất, hai vợ chồng đưa nhau vào phòng ngủ, giúp nhau cởi bỏ đồ trên người, trịnh trọng nâng niu nhau, dắt nhau làm cái việc mà tổ tiên xưa từng làm để hôm nay có họ trên đời. Đêm giao thừa, không tục tĩu, không ham hố, mà khoan thai, trân trọng từng chút, từng chút cho đến khi cả hai hoà nhập trong không khí tĩnh lặng đêm giao thừa. Bà không có chuyện đó, chưa từng có. Nên bà thèm có ai đó. Ai đó cũng được bên bà trong phút giao thừa cô đơn. Người đàn ông đã chen vào đời bà, với những cuộc tình như nó phải có giữa đàn ông và đàn bà đã cho bà những đứa con, còn người đàn ông bỗng biến mất. Để lại cho bà những đêm giao thừa cô quạnh. Nhiều khi bà tự hỏi không hiểu bà có bất hạnh lắm không? Lớn lên, tất cả mời hình thành để biến cô từ một bé gái thành thiếu nữ thì mọi cái đảo lộn hết. Đã từng lãnh giải xuất sắc trong kỳ thi văn chương, đã từng tự lo cho mình cuộc treo tranh, bỗng nhiên thấy mọi cái chẳng còn ý nghĩa gì đối với xã hội đổi khác này. Thế thì lấy chồng, làmvợ, làm mẹ cho xong một đời con gái, cho qua một đời người, ai cũng phải thế thôi. Nhưng đâu có đơn giản vậy. Làm gì có cái chuyện thông đồng, bén giọt đến như thế. Chỉ có một chuyện diễn ra đúng quy luật đó là vợ chồng nằm với nhau, ít lâu sau cái bụng bà xồ ra, và ít lâu sau, một đứa trẻ tách thân xác bà chui ra. Còn tất cả… như một chuyện đùa dai dẳng.
Bà đi học nhưng có lúc không được làm cô giáo. Theo người ta thì tim bà có vấn đề. Bà cũng thấy hình như tim mình đập nhanh hơn bình thường. Khiến bà lúc nào cũng hồi hộp và thỉnh thoảng giật mình vì những lý do thật vô cớ. Ban đầu, người ta không cho bà đứng trên bục giảng. Nhưng rồi khi thiếu người, người ta lại gọi bà lên và bảo bà rằng bà phải làm cô giáo. Bà liều nhận lời. Ban đầu cũng lo. Lỡ đang đứng lớp, một cơn xốc… Nhưng mọi chuyện trôi đi êm ả. Bà xin đi học tiếp vào lúc tuổi đã lớn. Những bạn học trẻ trung cứ quấn quýt lấy bà, đứa gọi là cô, đứa kêu bằng má. Học xong, được cái này, mất cái khác. Chồng bà trong lúc vắng nhà, có người theo đuổi. Ông ta phụ bà. Khi ông đòi ly hôn, buồn lắm nhưng bà ký. Thế là ly hôn. Ông chồng ra đi để lại cho bà nuôi tất cả những đứa con. Và bà chật vật, vất vả ngần ấy năm trời…
Bà có những đêm trăng. Những đêm trăng gợi cảm. Mỗi khi có trăng làm bà thấy lòng mình lạnh buốt buồn. Ngày xưa bà đã có một người tình. Người tình chớ không phải là chồng. Hai người đã có với nhau những đêm trăng. Tha thẩn đi bên nhau. Muốn cho nhau rất nhiều mà không giám vượt qua những hàng rào cản cuối cùng để đến với nhau. Anh ta đã có vợ. Có vợ nhưng lại nói lời yêu với bà, yêu mà để đó không đi đến đâu và cũng chẳng được về đến đâu. Có một đêm trăng, cái đêm trăng sáng đến lạnh lùng bà muốn dắt người tình vượt khỏi giới hạn. Bà kéo người tình sát vào người mình, ngửa mặt nhìn trăng và sau đó nhắm mắt chờ. Từ hồi đó bà đã biết mình chờ cái gì. Giữa trời trăng sáng khác gì thanh thiên bạch nhật, trao thân cho người mình yêu, hỏi còn gì nên thơ hơn. Chỉ có hai cánh tay xiết ghì còn tất cả buông lỏng hết, để chờ. Thế mà chàng hoảng sợ. Thế là bà đành nuôi trong mình một mối tình chết chẳng ra chết mà sống cũng chẳng ra sống. Khi vui cũng nhớ và khi buồn cũng nhớ. Nhiều khi bà muốn mối tình ấy đừng bao giờ phai. Nhưng rồi lại có lúc bà muốn ném tọt cái quá khứ ấy vào những cái tã lót của những đứa con ỉa đùn, dái dầm, những chậu quần áo ngập mặt, những bữa cơm chậm chuội. Thế mà khi có những đêm trăng bà lại lôi quá khứ ra mà nhâm nhi. Những đêm trăng như thế, cho biết một điều bà còn là một người đàn bà còn hấp dẫn. Mà bà cứ ngẫm hoài, mình hấp dẫn bởi cái gì chớ. Bà giống như một cọng cỏ mảnh mai trên thảo nguyên mênh mông, giống như một cái dây leo bé xíu trong rừng đại ngàn. Có lúc bà biểu: chắc tại cho đến bây giờ bà vẫn còn giọng nói giống như trẻ thơ và những gì bà tạo ra trên giấy không có cái gì u ám, không có cái gì buồn khổ, mà nó cứ sáng trưng những niềm vui, những lạc quan. Dẫu đó là những trang về những gì của cổ xưa. Bà thích những gì của cổ xưa. Một cái bình. Một góc đao của mái chùa. Một viên gạch mộc. Một cục đá có hình vân lá. Bà vẽ chúng lên giấy vì bà không có quyền và cũng không có tiền để trở thành chủ sở hữu những vật vô giá đó. Bà còn viết lại trên giấy tất cả những cảm nhận và cảm xúc của bà vào giấy. Bà cảm ơn người đã làm ra những tờ giấy để chúng giúp bà khi có cảm hứng xuất thần. Khi gặp những dấu vết cổ xưa, bà đam mê những cuộc tìm kiếm, có lúc bà tưởng mình là người của cõi xưa. Của cả trăm, cả ngàn năm trước. Mà người của ngàn năm trước vẫn được như hôm nay, không còn hấp dẫn mới là chuyện lạ.
Họ quen nhau từ lâu lắm rồi. Một sự quen bình thường như bao nhiêu người khác. Đó là một ngày đẹp trời. Bà còn đang chăm sóc một gia đình và ông thì đang sống trong một gia đình không khá giả lắm nhưng cũng được xếp vào loại bậc trung. Họ gặp nhau trong một chuyến công tác chung về vùng rừng phía bắc. Ông lên đấy cho một chuyến gọi là đi thực tế cho nhưng trang viết tiểu thuyêt còn dang dở. Còn bà là chuyến đi thực tập về viết lịch sử ngay trên vùng đất đang chuẩn bị cho ra đời một nông trại. Trong văn phòng tuềnh toàng hôm ấy họ làm quen với nhau bằng những lời xã giao. Chẳng hạn như cô bây giờ ở đâu. Anh làm công việc này có thích thú không? Chồng em làm gì. Bà xã anh công tác hay ở nhà lo cho anh? … Ngày ấy họ hết lời ca ngợi về tổ ấm của mình. Mặc dù ngay trong lúc đó trong nhà cả hai đang có những chuyện kể ra chẳng hay ho gì. Mà lúc đó cách đây hàng chục năm cả hai người đúng là có hai gia đình nhìn bề ngoài nhiều người thèm muốn thực. Hai gia đình công chức, vợ chồng cùng tham gia công tác. Thì có gặp nhau cũng chuyện xã giao vậy thôi. Sau đó là ghi vào sổ tay bà địa chỉ của ông, và ông ghi số điện thoại của bà vào một tấm giấy có sẵn trong cuốn sổ công tác mang theo. Họ ghi chẳng qua cũng chỉ làm rậm rạp thêm những dòng ghi chép thôi, chắc lúc đó không ai nghĩ rằng người này lại đi tìm người kia. Nhất là vào lúc cả hai đều đã vương những sợi tóc bạc trên đầu. Cho đến ngày, những tấm giấy đã vàng ố, chữ và số phải nhìn lâu lâu mới nhận ra, họ gặp nhau sau cả chục năm trời có một lời hẹn bâng quơ.
Nhưng hơn mười năm trôi qua, sự bền vững của gia đình ông và gia đình bà cùng lung lay. Một bên, ông ra ở một mình. Bên kia, lo trả nợ giúp chồng, bán cả đất đai mà trả nợ cho chồng sau đó gánh một gánh tang bồng để chồng cất cánh bay xa, tìm cho mình một tổ ấm khác. Ông cũng không còn nghĩ rằng, mình sẽ lấy thêm một lần vợ nữa. Còn bà, cũng chẳng thể nghĩ đến chuyện lấy chồng. Ai dám dũng cảm cùng bà gánh vác những đứa con. Chuyện chồng con với bà giống như truyện lên trời hái sao vậy. Ông thì đã quá sợ những tội và những nợ mà mình đã gánh một đời. Nói thế chưa chính xác lắm. Ngày ông ra ở một mình cũng đã có người đến với ông. Một người đàn bà đã từng làm vợ nhưng là đời vợ thứ hai. Anh chồng kia giúp bà sinh hai đứa con rồi đành đoạn bỏ cô về với người vợ trước. Cô đến với ông, chỉ đến ngày thứ ba đã biểu hiện muốn làm bà chủ căn phòng mười sáu mét vuông kia. Sao anh kê cái bàn vào chỗ này? Chỗ này phải để cho rộng rồi đưa cái nệm vào. Anh gác mấy đống sách vở này lên trên kia cho em. Ngày mai, anh phải làm cho em một cái tấm ri- đô che lại cho kín đáo… Thế là ông sợ, né tránh. Ông làm một tấm biển treo ngoài cửa: “ Tôi bận, không tiếp bất cứ ai”. Cô ta đến thêm chừng dăm bảy bận nữa rồi đi luôn. Còn bà, cũng có một người đàn ông vợ khuất núi, ba đứa con. Mỗi ngày ông ta gọi cho bà mấy cú điện thoại. Có cú thì bà nghe, có cú thì những đứa con nghe. Giọng bà thì trẻ, giọng con có đứa nghe khàn khàn. Ông ta lẫn lộn hoài. Có lúc gặp mẹ thì ông ta nói lời của người làm cha. Lúc gặp con thì nói lời của tình nhân. Chán thực. Muốn làm tình nhân mà không nhận được tiếng nói nhau sao gọi là tình nhân được. Vả lại tới gần một nửa tiểu đội con thơ như thế, làm sao sống. Là đàn bà, bà cũng phải nghĩ đến miếng cơm, manh áo, chén cháo, nồi rau chớ.
Bây giờ thì ông tự cho mình là siêu thoát rồi khi đã quá lâu không còn nghĩ gì đến đàn bà nữa. Còn bà thì tự cho mình được sống thanh tthản với những                                                                                 đứa con. Nhưng trong lúc buồn nhất, cô đơn nhất, ông lại có cái số điện thoại của bà. Ông gọi, hai người chuyện, và bỗng thấy, nhất định phải gặp nhau.
Trong quán cà phê hôm đó họ nói với nhau nhiều quá, nói không hết. Ông biểu:
- Này, mình có thể thức với nhau hết đêm nay không há? 
- Sao lại không?
- Nhưng thức ở đâu? Người ta có bán cà phê đến sáng đâu?
- Thì về nhà em.
- Những đứa con?
- Không sao. Em có thế giới riêng của em mà…
Họ về. May sao, đó lại là một đêm trăng thật sáng. Khuya. Những đứa con đã ngủ hết. Hai người chen nhau ngồi trên một chiếc ghế bố. Thiếu gì ghế, nhưng hình như họ không cần. Bởi ngay trong cái lều quán cà phê, ông đã quờ tay tìm bà. Bà nằm gọn trong tay ông, ngửa mặt đón từ ông một nụ hôn thiệt dài. Họ ham hố hôn nhau. Môi họ xiết vào nhau nghiến ngấu. Tưởng như họ đã quen nhau từ lâu, tưởng như họ đã có nhau tự bao giờ, từ ngày xưa, năm nảo, năm nào và cho đến tận bây giờ họ mới được trao gởi cho nhau. Chiếc ghế bố trong căn chòi vẹo sang một bên, nghe có tiếng rạn của tấm vải bố và nghe cả những tiếng ken két của những mộng ghế vốn không được chắc chắn gì. Cả chục năm rồi. Cả chục năm chớ có ít gì. Trong họ, vẫn còn chút ít hooc- mon dành cho sự thèm khát. Tưởng như đã nguội tắt vì những năm tháng cô đơn và vất vả. Nên bây giờ họ chen nhau trên chiếc ghế bố được đặt dưới một gốc cây sa- bô- chê, một nửa lọt ra ngoài tắm ánh trăng, một nửa khuất dưới bóng cây. Nhưng bóng cây và trăng lúc này đâu có ý nghĩ gì với hai người. Họ ôm nhau đến nghẹ thở. Họ phủ lên mặt nhau những cái hôn tới tấp, dồn dập:
Ông thì thầm:
- Làm sao bây giờ, em…
Bà thì thầm:
- Anh biết rồi còn hỏi.
Ông thì thầm:
- Tất cả?
Bà thì thầm:
- Giữ làm sao được, anh ơi?
Ông thì thầm:
- Ngay ở đây được không em. Ngoài trời, nơi có ánh trăng…
Bà thì thầm:
- Không. Hàng xóm ở đây họ tệ lắm. Coi chừng họ rình đó.
Ông thì thầm:
- Kệ họ… Làm gì được mình…
Bà thì thầm:
- Em không muốn vậy. Thôi vào phòng em đi.
Phòng chật, chỉ kê được một cái bàn trang điểm loại nhỏ nhất ở các tiệm đồ gỗ. Một chiếc tủ sắt cũng vào loại nhỏ. Chỗ còn lại chỉ trải đủ một chiếc nệm không lớn và cũng không nhỏ. Chiếc mùng rộng, dăng không căng, lụng thụng rủ chùm lên chiếc nệm. Điều ấy cũng chẳng quan trọng gì. Cả chục năm rồi. Bây giờ điều mà họ phải làm là giúp nhau trút bỏ hết những gì còn vướng mắc trên người. Sau đó là đến việc mà tất cả những người đàn ông và đàn bà phải làm lúc khát nhau. Ông ngạc nhiên. Bà ngạc nhiên. Sao lại có thể như thế được? Thế gian này có chuyện như thế không? Ông lần thứ hai lắc lư. Bà lần thứ hai nghẹt thở. Và rồi họ buông nhau ra nằm sóng đôi trên chiếc nệm lúc này mới thấy chật, ngước nhìn lên và thắc mắc: lúc này sao nóc mùng trùng thế. Lai còn những góc mùng nữa kìa. Muỗi vô chích chết bây giờ. Đó cả chục con rồi kìa. Chúng chưa kịp chích. Trích thế nào được khi hai người chẳng có lúc nào nằm yên.
      Bà thú nhận một điều, đã lâu rồi bà không nghĩ đến đàn ông. Bà biểu: đàn ông bao giờ cũng có hai mặt, rất dũng cảm nhưng cũng rất hèn hạ. Còn ông thì bảo, chẳng thằng đàn ông nào thật thà cả, kể cả ông. Ông còn nói: người ta sống được chủ yếu nhờ vào hèn hạ và dối trá. Bà cười nhạo ông. Ông chứng minh: thì như ông đấy, đâu có dám vượt qua những chuyện tầm thường trong gia đình để đến hôm nay sống lẻ loi một mình. Bà cãi: đó là ích kỷ chứ không phải là hèn nhát. Hèn nhát gì mà dám vít cổ bà xuống mà hôn, khi không biết bà có đồng ý hay không. Ông cười, thì bà có đón nhận thì ông mới dám hôn. Nồng nàn nữa kìa. Bao giờ mình lại hôn nhau.?
Gần sáng bà biểu ông:
- Lạ thực đó.
- Lạ gì?
- Anh già rồi mà sao cái hôn trẻ thế?
- Thì em cũng vậy.
- Nhờ anh đó. Anh không nồng nàn thế thì em nồng nàn sao được. Anh có sợ đến một lúc nào đó mình không còn hôn nhau được nữa không?
- Khủng khiếp … Nếu không còn hôn nhau được nữa thì còn gì nữa đâu. Mà sao em không ngủ.
- Ngủ cả chục năm rồi, ngủ làm gì nữa...
- Về ở với anh chớ.
- Để thu xếp cho mấy đứa trẻ đã.
- Liệu chúng có ý kiến gì không em.
- Không. Chúng nói với em hoài “Mẹ sống thế này khổ quá. Có ai thương, mẹ đến với người ta đi”. Chúng biểu em vậy đó. Nhưng mà em có lúc em nghĩ, khi bầy trẻ yên thân rồi thì em đã biến mất khỏi cõi đời này. Biến không tăm tích. 
- Tuyệt vời.
- Sao lại tuyệt vời?
- Thì anh cũng nghĩ vậy. Đến bây giờ thiêu xác cũng là dịch vụ. Tiền cả đống để lấy lại một nhúm tro tàn. Đã có lúc anh nghĩ đến chuyện hiến xác cho nghành y. Nhưng lại sợ…
- Sợ gì?
- Sợ lỡ có Chúa thiệt, Chúa sẽ giận vì đã mang hình hài mà Chúa đã ban cho ra cho người ta băm vằm mổ xẻ. Nhiều lúc thở dài, chết rồi còn gì nữa đâu. Xác mình người ta làm gì thì làm. Mà em có mua bảo hiểm chưa. Mua rồi thì tốt. Khỏi lo lúc chết. Ít nhất thì cũng có một cái hòm cho đỡ lạnh xác.
Hôm ấy ông đã ra về sau một cái hôn ngợp thở. Ít ngày sau, trong một ngày ông nhận được liên tục những lá thư. Trong một ngày, với những mảnh giấy, trong đó vụn nát những tâm trạng. Và bà không đến với ông nữa.
Nên ông vẫn cứ một mình. Cứ mong chờ. Cứ gọi tìm.
Ông lấy ra một cái hộp nhỏ. Trong đó chỉ có mảnh giấy ghi số điện thoại của bà, một bức tranh tĩnh vật bé tí teo vẽ hình một bình bông có những bông nhỏ li ti, tím sáng. Và những mảnh giấy của bà.
 
KHÚC TƯỞNG TƯỢNG
               
Anh.
Lúc này, đêm đã rất khuya. Ngoài sân trăng cuối tháng nhưng sáng và lạnh lẽo làm sao, cứ lâu lâu em lại có một đêm không sao ngủ được. Và em nhớ anh.
Tình yêu đến rất muộn, rất tình cờ và mơ màng. Anh và em ở hai đầu nỗi nhớ, gần gũi và cách xa. Chẳng thể nào với tới mà cũng chẳng thể nào rời xa. Muốn đến với anh mà không thể đến. Nếu cứ thế này mình sẽ ra sao?
Có những mùa trăng quê. Trăng luôn luôn đồng loã với những mối tình đẹp và thơ mộng. Cũng chính vì thế mà đã từ lâu em vẫn thường ngồi lặng hàng giờ ngoài hiên vắng, nao lòng chỉ vì một đêm trăng quê.
Từng có những mùa xuân, nắng vàng ngọt ngào, vàng đẫm những chiếc lá xanh và lảnh lót, vang vang tiếng hót ríu rít của loài chim hoang dã. Giấc ngủ muộn biến em thành công chúa ngủ trong rừng. Em trở giấc, là nắng cũng vừa nhảy nhót váo tận trong mùng, xuyên qua khe cửa, đậu lại trên bàn viết lung linh, ngây thơ.
Từng có những chiều thu, gió lồng lộng thổi, mặt ao buồn lay phay, những cánh những diều giấy lượn lờ ngoài ruộng xa. Tuổi thơ hồn nhiên như cánh cò cõng nắng xoải mãi về chân trời xa. Em một mình một cõi, rưng rưng buồn, nhớ ngày xưa còn bé, cùng bạn bè rong chơi, cùng bạn bè đùa đẫy hết một chiều thu. Nắng thu vàng đượm trên vai áo, lấp lánh những giọt mồ hôi, và sáng bừng những ánh mắt cười, những cặp môi cười.
Nhớ lại lúc em mới mười lăm tuổi. Tuổi sắp thành thiếu nữ, đọc sách nhiều, mơ những chàng trai cưỡi ngựa hồng đến từ bên kia bờ sông vắng. Chiều nào cũng vậy cứ ngồi mãi mà mong chờ cho đến khi ráng chiều thắp đỏ mặt sông mới chịu quay về. Rồi một ngày kia, hình như chàng xuất hiện thực. Chàng không phi ngựa mà chàng lội như con cá kình, lướt trên mặt sông. Thuở ấy sống như mộng, giữa mộng và thực không ranh giới, bởi vì chiều nào cũng dòng sông ấy và chàng cũng vậy. Cả hai cùng bơi lội chung một dòng sông mà chẳng ai nói với ai điều gì, cho đến một hôm chàng không đến nữa, chàng bỗng biến đi trong lòng sông nước chảy cuồn cuộn. Dòng sông hoá thành dòng sông ly biệt, khi chàng chỉ kịp chia tay bằng một câu rất ngắn rất buồn: “Chào em, ngày mai anh sẽ đi rất xa, và không trở lại”. Em thấy hình như bàn tay mình run rẩy trong bàn tay chàng. Và hình như đôi mắt chàng có một sợi khói mơ hồ. Chàng đã ra đi thật, một năm trời với những buổi chiều tàn phai, không lần nào chàng trở lại. Cô bé mười lăm tuổi lúc ấy đã biết buồn vu vơ.
Mười tám tuổi trong trẻo như nắng ban mai. Em hoá thân thành một dòng sông dài của thời mười tám, dòng sông khao khát những tình cảm nồng nàn. Lại gặp một người thực nhưng lại là người của một thế giới mộng mơ. Người thường viết cho em những bức thư tình bằng bút đỏ. Bàn tay mất một ngón cái, chàng luôn viết bằng tay trái, nét chữ nghiêng trữ tình. Mà chàng chỉ dám viết thư tình. Những lá thư tình ướp thơm và say đắm. Nhưng chàng lại dối em. Thư viết thì thực như không thể thực hơn. Nhưng, bên chàng đã có người chung chăn gối. Khi em biết ra thì chàng đã không còn ở quanh đây nữa, chàng ra đi không từ giã. Em ôm gốc cao su già khóc nức nở, không giận chàng giả dối, mà giận chàng không chịu đến sớm hơn. Chàng gọi em là cô - bé - cái - gì - cũng - biết. Nhưng có một cái cần biết thì chẳng biết gì cả. Chàng nâng niu em như một bông hoa cánh mỏng. Vậy mà chàng đã thả vào tuổi trẻ của em một nỗi đau buồn. Em ôm trái tim trong trắng trong lòng, trái tim chưa kịp rung rinh, chưa kịp san sẻ, vẫn mỗi ngày đến lớp, học rất giỏi, nhộn nhịp như một chú chim sáo, nhảy nhót, líu lo…
Ngày ấy, trước sân trừơng có một cây me tơ, đang mùa sai quả. Trưa nào đến lớp, trong học bàn em cũng chất đầy những trái me chua. Có kẻ nào đó vào rất sớm hái trộm me tặng em. Ngày nào bọn con gái cũng chia nhau những quả me thú vị đến ghê răng. Cho đến khi me trên cây không còn, dù chỉ là một quả non. Nhưng người trộm me cũng đã ra đi, ra đi vĩnh viễn, trên cõi đời này có kiếm tìm, cũng chỉ còn là chút kỷ vật mà thôi. Thời chiến tranh người ta chết dễ dàng làm sao.
Khi lớn dần lên, em sống đời bằng một chút ngốc nghếch của tuổi trẻ, sống như thể để thấy đời dường như bớt nhọc nhằn.
Bây giờ có lúc em thèm kêu lên: hãy trả em về với trong trẻo ngày xưa. Cuộc đời ơi đừng quá trần tục, cho em mơ một chút đến thiên đường, ở đó có ngọt ngào tình yêu, có trong trắng, hồn nhiên, khóc vĩnh biệt tuổi thơ của mình, tuổi trẻ của mình.
Rồi sau đó, có những mùa mưa, vườn nhà em cỏ mọc um tùm, hoang dại, cỏ vào đến tận thềm. Mùa mưa đêm dài vô tận, rả rích tơi bời trên mái lá. Chiếc máng xối dột nước đổ vào những chiếc thau nhỏ, giọt vắn, giọt dài. Gió thốc vào từ mành mành cửa sổ, trống vắng lạnh lẽo, tủi thân. Em đã một mình bắc thang trèo lên che chỗ dột, chèn lại tấm lá bị gío thổi bật ra. Bụi chuối sau hè gió tạt vào phành phạch. Nỗi buồn, nỗi cô đơn cuộn tròn như giấc chiêm bao đau đớn. Em nhớ ngày xưa có người đã ra đi cũng vào một ngày mưa tầm tã. Từ đó, em có những mùa đông mặt đất lạnh lẽo, bầu trời lạnh lẽo. Những đêm trăng mùa đông mới dài làm sao. Chiếc giường rộng quá, thênh thang quá. Giường em lúc nào cũng có hai chiếc gối. Một để nằm còn một chỉ để cho bớt cô đơn. Mở cửa sổ, nhìn ra mảng sông mênh mông. Trăng sáng quá, ánh trăng xanh lướt thướt, bóng cây trong trăng đổ dài, quạnh quẽ liêu xiêu. Nhớ day dứt mùa trăng tuổi thơ.
Anh ơi.
Trên đầu mình, đã có đến hai mầu tóc, mà trái tim gõ nhịp đập của tuổi đôi mươi, tình yêu đến thầm lặng ngọt ngào, tình yêu mơ hồ tựa như giấc chiêm bao. Tình yêu lẻn vào trái tim nhẹ nhàng như gió lọt qua ô cửa.
Giờ này anh còn thức không? Muốn phone cho anh lại không dám. Một tiếng chuông khuya, sợ làm kinh động trần gian, sợ trái tim anh lỗi nhịp, sợ đánh thức một giấc mơ tuyệt vời.
Em muốn giữ một chút kỷ niệm này mãi mãi dù cho cuộc đời có thể bất ngờ phá hỏng những giấc mơ. Mái tóc anh như sương khói. Giọng nói anh như gió thoảng, hơi thở anh như men rượu và trái tim anh vang nhịp những lời ca. Em có thể ngủ quên trong như thế của nah. Có anh, em bỗng thấy mình rất nhỏ, như thuở còn thơ, hay vòi vĩnh. Bỗng thấy gánh nặng oằn trên vai mình như nhẹ đi, như có người đưa vai gánh hộ và có lúc bỗng tự nhiên bật khóc vì em biết anh cũng chỉ là hư vô. Rồi anh cũng giống như người cùng lội dòng sông của tuổi mười lăm, người viết thư tình bằng tay trái nét chữ nghiêng nghiêng hay như người hái trộm me chua, sẽ biến mất như người ta từng biến mất. Nên em tự dỗ dành mình: hãy nín đi, đường còn dài, hãy can đảm như bấy lâu can đảm ấy mà.
Có lúc một mình, bỗng dưng em muốn khóc và thế là em khóc thật. Khóc thật hồn nhiên mùi mẫn. Khóc bằng thích cho đến khi bất ngờ nhận ra mình đã nín lặng và đang lắng nghe tiếng khóc của chính mình. Tiếng khóc mới trẻ con làm sao, đến cả tiếng nức nở cũng thấy ngon lành.
Đêm đã rất khuya. Mong em ngủ được nửa đêm còn lại, để sáng mai tiếp tục trên vai oằn một cuộc đời và bước vững bằng những bước chân cô đơn, xiêu vẹo đến tận cuối nẻo đường xa. Nhưng những chuyện anh kể đêm ấy cứ ám ảnh em hoài.
Chuyện kể trong một đêm dài quá và chắp vá bằng rất nhiều chuyện cay đắng trần tục đến khủng khiếp, những thân phận khố khổ, nhọc nhằn, những mảnh đời lẻ loi tốt xấu lẫn lộn. Em đọc và buồn muốn chết đi cho rồi.
Đã lâu rồi, em cố gắng sống rất hồn nhiên, rất lạc quan. Em thèm một buổi sáng chủ nhật ngủ muộn, trở giấc bằng tiấng chim hót vang trên ngọn dừa cao, mà nơi đó nắng đã nhuộm thắm những chiếc lá xanh và ngoài ruộng xa những chú cò trắng đã từ bao giờ đứng quanh bờ ruộng nhỏ, làm sáng cả một quãng đồng.
Những buổi sáng như thế êm ả, ngọt ngào như một ký ức xa xưa. Em muốn sống như thế cho đến hết cuộc đời này. Em mặc mọi thứ để sống với cái riêng mình, và đã từ lâu em lạc lõng một cách hạnh phúc.
Đã lâu lắm em không có ngày chủ nhật. Em mơ hồ nhận ra sống giữa cõi đời này mang vào mình những vay, những trả, mà lẽ ra đó không phải là cõi của em. Em sống hư hư, thực thực giữa đời. Có lúc em ngán ngẩm và em muốn biến đi. Yêu và ghét tầm thường vậy sao. Em trải rộng lòng mình ra khắp chốn, yêu tha thiết con suối trong vắt mát rượi, yêu chiếc xuồng nhỏ neo mãi dưới bến sông quen, yêu những đứa trẻ nhởn nhơ chạy chơi trứơc mặt, yêu những chiếc rễ gừa rất già, vững vàng cắm sâu vào lòng suối lạnh, để toả bóng mát xanh cho những con cá vỗ nước óc ách. Yêu những nơi em đến trên quê hương ngập nắng này. Yêu những bàu tràm, bàu le le cô tịch của rừng già nơi có những con mễn, con mang lạc bước chạy quẫng giữa mênh mông hoang vắng. Yêu cây cám cụt đọt cháy xém và lỗ chỗ vết đạn chiến tranh, yêu cả con đường mòn rất nhỏ giữa rừng im ắng. Em yêu những buổi trưa vắng lặng. Yêu những vườn điều làm chỗ trú chân, yêu những chú bò vàng nhởn nhơ gặm cỏ và yêu vô cùng những người dân đen đúa đôn hậu mộc mạc của xứ này. Em yêu những đêm trăng rừng huyền hoặc, trăng lên cao và rực sáng giữa cô liêu. Trời bạt ngàn sương trắng, rừng bạt ngàn cây xanh. Nơi đó luôn luôn có những chuyện còn nóng hổi của hôm qua, của ngày xưa, của vĩnh hằng những tên người, tên đất. Còn nhiều nơi em chưa đến, trong ước ao, em muốn được đến khắp nơi, được yêu nhiều hơn nữa. Yêu để thấy đời còn tươi quá, xinh đẹp quá, con người sẽ trở nên đáng yêu hơn đáng ghét.
Không ai hiểu em, tất cả đều tưởng em lúc nào cũng vui nhộn, pha trò. Em biến cuộc đời em, thành một cuộc vui: đùa với cháu, dỡn với con, trồng cây quanh nhà, nhưng những thứ đó chỉ là nhất thời, nó không là đam mê, không là tận cùng của khao khát. Nhớ những ngày mới ra trường, cơn bệnh trầm kha tưởng sẽ làm mất đi chính mình. Nhưng chiếc lá, chiếc lá cuối cùng không còn rụng nữa, nỗi tuyệt vọng thành niềm hy vọng để hôm nay tồn tại. Càng sống lâu, càng thấy khó thực hiện những điều mong ước. Em mơ mình có một đôi cánh, và bay mãi lên cao, bay mãi lên cao…
Viển vông quá phải không anh.
Ngày mai em có thể chắng còn gặp anh nữa. Ngày mai có thể anh, có thể em sẽ là người của thiên cổ (cũng sắp rồi còn gì). Ngày mai, có thể sẽ ngưng lại tất cả chấm dứt vòng quay trái đất… Thì em cũng cảm ơn anh đã trả cho em một chút tuổi trẻ. Cũng như anh đã từng cảm ơn em cho anh biết lại một thời nồng nàn.
Chỉ nên thế thôi, cho ngày mai còn có mơ ước.
Dẫu có muộn mằn
Đừng hôn em nữa, đủ rồi.
 
*
*     *
Lá thư trên đây được đưa đến khi người ta phải đục cánh cổng hẹp trước cái phòng nhỏ như cái hộp diêm quẹt ra để có đường đi cho tám anh đạo tỳ khiêng chiếc hòm ra xe thổ mộ. Đi phía trước có môt ông tuổi chừng ngoài ba mươi, hay sắp bốn mươi gì đó đội nón rơm và chống gậy. Bên cạnh có một người đàn bà chít khăn tang dài và hai người đàn bà khác chít khăn tang ngắn hơn một chút, nhưng ai cũng mặc áo xô. Có mấy đứa trẻ chít khăn tang vàng. Anh nhân viên bưu điện ngơ ngác như mình mắc lỗi:
- Ông ấy chết rồi ư?
- Thấy rồi còn hỏi.
Có ai đó nhấm nhẳn.
- Còn lá thư này?
- Thư gì?
- Thư viết cho ổng. Thư nặng lắm, chắc viết dài…
- Thì đốt đi, về dưới ấy ổng nhận.
Một ngọn lửa. Lá thư cháy cùng với những giấy tiền vàng mã.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 KHÚC BÌNH MINH
 
 
Có một ngày sáng ra không thấy mặt trời. Cũng bâng khuâng. Hình như lá ít xanh hơn ngày trước. Hình như thiếu những giọt sương long lanh. Con bướm hình như chẳng muốn bay.
Một sáng như thế, ông Bảy kêu:
- Xong chưa bà?
- Xong rồi đây. Chờ tôi chút xíu thôi hà.
                - Sao lúc nào bà cũng lâu lắc thế. Ngày xưa còn trẻ trung, còn mất thời giờ tô son trét phấn. Còn bây giờ, khoác cái áo là rồi.     
                Nghe tiếng bà cười trong nhà:
                - Cũng tại ông. Ngày xưa mỗi lần ra đường ông biểu tôi: Em phải làm cho em đẹp nhất trên những con đường có anh và em đi.
                - Ay là ngày xưa, còn bây giờ …
                Bây giờ, mỗi sáng, ông Bảy và bà Bảy lại đưa nhau đi dạo trên con đường trong xóm nhỏ nơi ông bà đang sống. Con đường không dài. Một đoạn nằm lọt giữa hai dãy nhà. Một bên là của một cơ quan lớn có tường xây bít bùng. Bên kia là nhà của những công chức, cũng có những hàng rào. Tuỳ mỗi nhà có một loại hàng rào khác nhau. Nhà ông thày giáo, hàng rào được tận dụng để trồng đậu rồng cho leo lên. Mùa đậu rồng có trái, ai trong xóm đi qua chỉ cần nói với vào nhà xin dăm ba trái là cứ việc hái. Nhà ông giám đốc Sở Giáo dục về hưu trồng một hàng cây xanh thay bờ rào. Loại cây có cái lá xanh ngắt, dày và tứa mủ mỗi khi bị thương. Nhà anh nhà báo có hàng rào cẩu thả nhất. Dăng mấy hàng kẽm gai, dây dại leo nhắng nhịt. Mùa mưa cỏ mọc láng trảng. Con đường chỉ còn khoảng giữa, giống như đường mòn trong rừng vắng vậy. Còn hàng rào nhà anh lái xe thì được mắc vào những cây trồng. Cây vú sữa, mùa trái chín, rụng đầy lòng đường. Cây bông giấy hoa nở, đủ mọi thứ màu: trắng, đỏ, tím… Đoạn thứ hai đi sâu vào trong xóm chẳng có rào dậu gì cả. Đường với sân nhà cứ thông thống. Cách đây mấy năm ông bà còn ra ngoài đường lớn mà đi. Còn bây giờ trong khoảng hơn một tiếng đồng hồ, đi hết đường trong xóm là ông bà lại quay về nhà.
                Thế rồi ông bà cũng ra được ngoài đường. Vẫn như mọi khi, bà đi trước. Ông đi sau. Đã có lúc bà nhằn ông: sao ông cứ đi đằng sau tôi thế. Ông cười: lỡ bà có té tôi đỡ bà chớ sao? Thế lỡ ông té thì ai đỡ. Tôi mà té ư? Tôi đã làm chỗ dựa cho bà vững chãi sống gần hết đời rồi, có té bao giờ đâu. Nhưng bà ơi, đàn ông người ta có té thì người ta cũng tự đứng dậy được. Nói thế thôi, đường xóm mình chật thế này, tôi và bà dăng ngang ra, cản đường cản lối người ta. Với lại đi thế này, người ta vẫn biết chúng mình là vợ chồng kia mà.
                Cát sỏi dưới chân hai người lạo xạo . Cây bông giấy, cây vú sữa, những cây xanh, cỏ dại, chậm chạp trôi qua trước mặt hai người. Bà bỗng hỏi ông:
                - Ông ơi. Hình như hôm nay thiếu thiếu cái gì đó ông?
                - Thiếu gì? Hay bà chưa ăn sáng?
                - Tôi có ăn sáng hồi nào đâu mà quên. À phải rồi ông có thấy thiếu gì không?
                Ông đưa mắt nhìn dọc con đường. Tất cả vẫn như thế!
- Không. Không thiếu gì cả.
                - Thiếu ánh nắng mặt trời…
- Ờ hén. Sao mặt trời hôm nay không mọc hén.
                Đúng thế. Mọi khi, vào giờ ông bà Bảy đi dạo, là lúc mặt trời mọc, đủ sức đổ tràn ánh nắng xuống mặt đất. Lúc đó mọi thứ như rạng rỡ hơn. Những bông hoa giấy trên hàng rào nhà anh lái xe khoe được hết màu sắc rạng rỡ. Những trái vú sữa nhà anh hình như cũng căng tròn hơn. Trên bụi cỏ ven đường, khúc có nhà anh nhà báo những giọt sương đêm còn sót lại lấp lánh như những viên ngọc lung linh. Một thoáng bâng khuâng, ông Bảy bỗng lên tiếng nói như một bậc hiền triết:
- Ô hay , không có mặt trời có làm sao đâu. Vợ chồng già mình vẫn đưa nhau đi dạo. Mấy chị hàng xóm, vẫn dung dăng dung dẻ, rủ nhau đi chợ lúc sớm mai đó thôi. Ký thịt mớ rau. Mắc mắc, rẻ rẻ. Bà có nghe tiếng phàn nàn đó không. Những chiếc xe có lũ nhỏ chở nhau lao vun vút, tiếng máy hú dài theo con đường tít tắp ngoài kia. Đâu cần ánh mặt trời sớm mai. Bà thấy không. Hoa bên đường đâu có kém tươi. Vẫn hương thơm tung toả. Mặc kệ mặt trời không mọc . Tiếng chim vẫn cứ ngọt thế thôi. Có thể có ngày không cần ánh mặt trời. Có thể .Vẫn còn nguyên tất cả . Có sao đâu?
Ông bà Bảy đã bao nhiêu ngày như thế đi dạo trên con đường trong xóm. Cũng bao nhiêu ngày như thế, hôm nay là chuyện mặt trời không mọc. Hôm trước chuyện thằng lớn mới mua thêm được lô đất. Hôm trước nữa, chuyện con nhỏ sắp đưa chồng con về thăm ông bà. Cách đây vài hôm là chuyện đứa cháu nội mới mọc thêm cái răng. Chuyện đứa cháu ngoại lớn lồng ngồng vẫn còn tè dầm mà ba mẹ chúng không chịu bắt nhện nướng cho nó ăn ông bà nói với nhau cách nay mấy ngày. Những bàn chân chậm rãi bước. Tiếng chuyện trò lầm rầm đã thành quen thuộc với xóm nhỏ giữa phố xá đông ken người này.
Một hôm, đầu xóm, thấy treo một cái cờ có chữ thập đỏ. Sáng sau, người trong xóm ngóng ra đường. Không thấy ông bà Bảy đi dạo. Lâu sau nữa, chỉ thấy một bà Bảy. Bước chân bà bây giờ chậm chạp hơn. Bà phải choàng thêm lên đầu chiếc khăn, khoác thêm ra bên ngoài chiếc áo mỏng, một chiếc áo dày hơn. Mắt bà đeo một cặp kiếng lão dày cộm. Bà bước đi một mình. Miệng mấp máy như đang nói chuyện với ai. Hay bà đang nói chuyện với ông như ngày xưa. Một ngày có thể thiếu mặt trời, không ai để ý, nhưng cuộc đới thiếu vắng một người, cả xóm thấy bâng khuâng. Đâu phải chỉ có mặt trời mới làm nên khúc bình minh.
 
NGÀYMAI SẼ TẾT
“ Hủ tiếu bò kho”
“ Cà Phê”
“ Uốn sấy”
… Cứ như vậy trải dài trên con lộ lạ huơ, lạ hoắc.
Dãy phố thập thò, cao thấp, chộn rộn xe, chộn rộn ngừơi. Mấy tấm biển quảng cáo chìa cả ra vỉa hè. Bên trong là nhạc, là ca cổ, xập xập xình, như cãi lộn, ầm ĩ. Bà chủ quán mập ú, cô chủ quán phấn son loè loẹt, anh chủ quán miệng tía lia, dẻo quẹo… Toàn những “hủ tiếu bò kho”, “cà phê “, “uốn sấy”… Thấp thoáng trong các quán xá, người ta đã chưng những chậu mai, với những nụ mai hàm tiếu, báo hiệu sẽ có những bông mai rực rỡ trong những ngày tết.
Còn tôi, chiếc ba lô lép kẹp trên vai tôi sao nó nặng? Đôi chân tôi như có đá, níu trì xuống. Chỉ tại cái anh tài xế ba trợn. Chiếc vé xe đò cuối cùng của chuyến xe lên biên giới trong tay anh ta bị một bà xấn xổ giằng lấy. Lẽ ra anh ta phải chạy theo mà giật lại, mà giải thích rằng tôi là người xếp hàng trước, rằng phải ưu tiên cho bộ đội, và chiếc vé phải là của tôi mới đúng. Vậy mà không, anh ta còn toe toét cười nữa chớ. Bởi vậy tôi mới phải lang thang thế này trên một đường phố lạ hoắc.
Đi đã dài đường mà tôi không biết mình sẽ dừng nghỉ lại ở đâu. Hay trải áo mưa ra vỉa hè nào đó ? Hay là… Tôi bước những bước vô định.
-Lai !
Tiềng ai đó quát, chớ không phải là gọi tôi. Đúng cái tên tôi. Tôi giật mình quay phắt lại. Một gương mặt quen quen. Mắt một mí xùm xụp. Miệng rộng lại có cặp môi mỏng. Cái mũi khoằm khoằm làm cho gương mặt như dài dại. Ai? Ai vậy cà ?
Cái ngưới vừa gọi đúng tên tôi xăm xăm chạy đến bên tôi.Và vẫn cái giọng oang oang, chan chát giữa đường phố đông người.
-Quên rồi hả ? Tôi đây nè.
“Tôi đây nè” phỏng có ích gì với trí nhớ của tôi?
Anh ta ôm lấy tôi, vồ vập. Anh vặn xoắn cái lưng của tôi. Thỉnh thoảng lại còn đấm tôi thùm thụp.
-Đúng là ông quên tôi rồi chớ gì nữa. Nhưng không sao, nhất định là ông phải nhớ ra. Vô nhà cái đã. Còn tôi, nhìn xa xa là tôi đã nhận ra ông rồi. Vậy mà cứ ngờ ngợ. Phải chạy ra. Vấp toạc cả dóng chân rồi đây nè. Mà không có kịp thấy đau nữa. Chèn đét ơi, sướng thật. Vô nhà đi ông, vô nhà rồi lần hồi sẽ nhớ tôi ra liền hà.
Tôi không kịp từ chối, bởi anh đang nắm tôi mà lôi xềnh xệch vô nhà.
Ngôi nhà ngay cạnh lộ. Một thứ nhà thành phố sâu hun hút về phía sau. Gian ngoài dành làm một tiệm cà phê. Với mấy cái bàn con con, với những khăn trải loè loẹt. Radio cassets đang nỉ non một bản nhạc tình, ráng cho át tiếng những máy khác đang hát ở những quán bên. Một chiếc tủ kiếng trong đó là bánh, là kẹo, là son môi, xà bông thơm, băng vệ sinh, hộp quẹt… Một cái bếp ngún khói và trên đó là cái bình trưng cà phê đen thui lui. Giữa nhà đã nghênh ngang một chậu mai thiệt lớn. Nụ mai ken đặc. trên những cành mai là chấp chới mấy tấm thiệp hồng. Trên tường bức hình các tài tử xinnê, gái thì nửa kín, nửa hở, trai thì nghênh ngang kiểu mấy gã chăn bò bên châu Mỹ la- tinh. Mấy câu đối tết đỏ kè trở nên kệch cỡm trước những bức hình.
Anh lôi tuột tôi ra căn sau, ấn tôi ngồi xuống chiếc ghế nệm êm đến tỉnh người. Anh bật một lúc hai cây quạt, cây ở trên đầu, cây lùa dưới chân. Mát rượi. Buồn ngủ gặp chiếu manh chẳng biết sướng đến đâu, chớ thế này thì đúng là tôi đang được lên tiên thực.
Nhưng ai vậy cà ?Ai mà lại nồng hậu với tôi đến thế ? Tôi lẳng lặng nhìn anh đang rối rít với hai ly cà phê. Bỗng tôi vụt nhớ:
-Anh Đôi, Lê Duy Đôi, phải không?
Anh bật cười ha hả:
-Tôi nói rồi mà, sao ông không nhận ra tôi ?Chí ít thì cũng đã một thời mình cùng chung một trung đội mà ?
Bỗng chợt nhớ ra điều gì, anh gọi với ra sau nhà:
-Oanh, Oanh à.Có anh Lai về chơi nè.
Tiếng một người đàn bà nào đó từ phía sau lảnh lói vang vào:
-Lai nào vậy anh?
Đôi liếc vội sang tôi, miệng chặc chặc như thạch sùng tiếc của:
-…Ôi da, bộ em quên hả. Lai được in báo bữa trước đó.
-Dạ- Tiếng người đàn bà có vẻ ngọt hơn.
Anh ngối đối diện với tôi. Làm sao có thể nhận ra anh được. Chao ôi tươi tắn quá. Miệng rộng cười hết cỡ. Hàng ria con kiến, đen đen, mấp máy. Hai mắt khép lại đủ cho một tia nhìn ươn ướt. Khác hẳn ngày xưa hồi còn chung đơn vị. Hồi đó anh sao hén ? Đen thui lui, tóc chỏng ngược, bộ quần áo chiến trận bốc mùi khét lẹt… Anh vẫn tía lia:
-Vợ mình nó khéo lắm. Nhắc chừng vậy thôi, lát sau thế nào cũng có ít đồ cho tụi mình lai rai chơi…
-Đừng anh, - tôi cản- đừng có cơm nước gì đó nghen. Lát tôi đi liền hà.
Anh nhìn tôi, vẻ phật ý hiện trên khoé miệng, còn cặp mắt thì vẫn tí hí cười:
-Bộ ông tưởng dễ thoát ra khỏi nhà tôi lắm hả ?Ông phải ở lại tôi chơi vài ngày, vài ngày là mấy tý trong cuộc đời ? Ha ? Vẫn trên Tây ninh hả ?Kiên trì gớm… Bữa tôi đọc bài báo, tôi nhận ra ông liền hà. Phải nói cái tay nhà báo đó tài thiệt. Hắn viết trận đánh sống thiệt. Sao chớ ? Ờ, phải rồi”… Với ba loại súng, chiến đấu dũng cảm giữa lòng địch, Nguyễn Hữu Lai đã tiêu diệt hai mươi lăm tên Pônpốt lấn chiếm đồn biên phòng Xa Mát…”. Ông cũng thiệt giỏi. Thốc vào giữa đội hình nó mà đánh ra thì chết cha có chớ còn gì.
Tôi lúng túng :
-Ôi mấy ông nhà báo ấy mà, làm gì…
Anh đẩy cái dĩa, trên đó có ly cà phê bốc khói lại phía tôi. Bàn tay, cái bàn tay… Chỉ còn một ngón cái và một ngón trỏ ở bàn tay phải. Tôi rùng mình. Có vạn vạn con kiến đang bò trên mình tôi.Vết sẹo trên bàn tay anh, tái mét, nham nhở. Ngón cái và ngón trỏ như những cái gai nhọn khổng lồ muốn chọc vào mắt tôi. Khổ, tôi không thể nào nhắm mắt được, nên nó cứ nhói lên, cộm, nhậm, xót. Tôi đỡ lấy ly cà phê. Đắng nghét. Hay miệng tôi đắng ? Vết sẹo ấy… Bao nhiêu năm rồi nhỉ ?Khỏi cần biết, chỉ biết, vết sẹo chắc không còn làm anh đau đớn nữa. Thời gian chỉ đủ làm cho những vết sẹo thêm lỳ ra, chớ kỷ niệm thì làm sao có thể quên được. Những ngày cuối của cuộc chiến tranh. Nắng và gió, bom và đạn, máu và chết chóc. Tôi và anh. Chúng ta và trung đội. Chẳng ai muốn bừa lên kỷ niệm, nhất là những kỷ niệm xót xa… Vậy mà anh ta đang cười kìa.
Dạo đó, mùa xuân 1975, người anh hùng không biết có nổi danh bằng anh hồi đó ? Tên anh vượt ra khỏi trung đội, vang tới trung đoàn, sư đoàn. Trận đánh của anh hồi đó, có một không hai. Tiểu đội anh chỉ còn có bốn tay súng, lọt vào giữa vòng vây của địch ở Xuân Lộc. Bốn bên là địch. Mất liên lạc hoàn toàn. Bốn người với anh là năm nằm lọt trong một khu nhà. Khỏi phải nói kẻ địch đã làm gì để nhổ cho được cái gai xiên vào hông chúng. Ngôi nhà đã sập nát, nhưng từ trong lớp bụi mịt mù, lúc nào cũng sẵn sàng những đường đạn thẳng căn chặn đứng các mũi tiến công của địch. Năm ngày ròng rã như thế. Lúc bộ đội ào vào chiếm Xuân Lộc, ngôi nhà không còn lấy một viên gạch chồng lên nhau, và năm anh em trong đó cũng không ai còn nguyên vẹn. Riêng Đôi, anh chỉ còn một chiếc quần dài, cụt hết một bên ống, và một mảnh đạn găm vào đùi trái. Bốn cái xác tử sĩ được bảo vệ chu đáo dưới tầng gạch vụn. Đôi khóc nấc lên khi sà vào lòng tay đồng đội. Tiểu đoàn nêu tên anh lên hàng đầu danh sách đề nghị tặng huân chương chiến công. Các đại đội tổ chức học tập gương sáng Lê Duy Đôi. Đảng ủy tiểu đoàn chuẩn bị thủ tục kết nạp Đôi vào Đảng.
Cuối tháng tư 1975, chúng tôi được gọi lên ban chỉ huy tiểu đoàn. Trong căn hầm chỉ huy, nép dưới tán lá cao su ở Biên Hòa, tôi gặp Đôi. Tôi cảm thấy mình trở thành nhỏ bé khi ngồi cạnh Đôi. Anh nhập ngũ trước tôi có hơn một năm mà hôm nay anh đã ngời ngời một gương sáng, còn tôi mới sơ sơ vài trận đánh phối thuộc.
Chúng tôi ngồi trước một sa bàn, ở đó có đủ mô hình của một khu căn cứ quân sự kéo dài suốt từ Long Bình đến Thủ Đức. Tiểu đoàn trưởng Tùng đã trình bày xong phương án đánh địch và kết luận bằng một giọng rắn đanh:
-Thế đó, chúng ta sẽ đụng đầu bầy gà nòi của Nguyễn văn Thiệu ở quân trường Thủ Đức. Tiểu đoàn chọn tiểu đội của cậu Đôi làm mũi đột phá khẩu. Tiểu đội của cậu Lai sẽ là mũi dự bị. Mỗi tiểu đội có một phương án tác chiến. Nhưng tập trung hơn cả là mũi của cậu Đôi. Rõ chớ ?
- Rõ - tôi rắn rỏi đáp. Được làm dự bị cho Đôi thì an tâm quá, còn gì mà phải đắn đo.
Vậy mà Đôi chỉ đáp khẽ :
- Tôi hiểu.
Trên đường trở về tiểu đội, chúng tôi tắm mình trong không khí chuẩn bị cho một cuộc tổng tấn công. Sa bàn. Trận địa giả. Đôi ba người xách súng tập. Những quả bộc phá đang được ghép lại. Mùi thuốc nổ vương khét. Những chiếc xe tăng nép kín dưới tán cây cao su. Những nòng pháo đen thui, nghển cao, chờ đợi. Đoàn tải đạn vẫn nườm nượp ngược xuôi. Những chiếc xe tải của hậu cần chở nặng gạo, súng, đạn. Đường dây điện thoại căng mắc, chằng chịt. Ngày chiến thắng hình như đến gần lắm rồi. Đây tới gần Sài Gòn không đầy một tầm pháo. Ta thì nhất định không bắn, chờ thời cơ và sợ bắn trúng vùng dân. Còn địch thì thả sức bắn phá. Chúng muốn ngăn cản đường tiến quân của ta. “Thần tốc. thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…” Nghe nói náo nức làm sao. Tôi lẳng lặng đi sau Đôi.
Dấn thêm mấy bước tôi bắt kịp Đôi và gợi chuyện :
- Anh Đôi này, bữa ở Xuân Lộc…
- Ôi cậu nhắc đến chuyện đó làm gì nữa chớ.
Anh gắt khẽ, làm tôi phục lăn. Mấy ai được như anh. Khiêm tốn, khiêm tốn quá. Chiến công là như vậy mà anh không hề muốn nhắc lại với ai. Tự tôi tìm câu kết luận của anh :”Chiến công là chiến công chung, đâu của riêng mình…”. Nhưng anh đã không nói vậy, mà lại hỏi tôi:
- Lai, có bao giờ cậu nghĩ đến cái chết không ?
Tôi thú nhận.
- Có chớ anh.
- Nghĩ sao ?
- Sợ. Đúng, rất sợ, anh. Giữa chiến trường như thế này, cái chết lúc nào cũng rình rập mình. Địch bắn trúng, chết. Bom đánh trúng, chết. Vấp mìn, chết . . .Cái chết nó chừa mình ra, thì còn; nó nhắc tới, mình sao tránh khỏi. Nhưng ngẫm thế này, anh Đôi : ngồi mà luận về cái chết thì sợ thực. Nhưng vào trận rồi . . . nó sao đâu ấy, quên luôn. Mà hình như quên được thì mình sống, phải thế không anh ?
- Ừ. Thì ở Xuân Lộc cũng thế đó. Nó vây mình tứ phía, nó đánh mình tứ phía. Hổng đánh, nó cũng đánh mình chết. Hoặc mình sống để nó chết, hoặc nó sống mình phải chết thôi. Giữa cái sống và cái chết cách có bao nhiêu đâu.
Anh thở dài, khó hiểu.
Hai ngày chuẩn bị, tôi quần anh em trong tiểu đội đến không kịp thở.
Đêm trước ngày xuất kích, Đôi nhắn gọi tôi sang tiểu đội anh. Chúng tôi ngồi bên nhau dưới một gốc cao su già. Anh im lặng rất lâu, không nói điều gì. Điếu thuốc lá trong bụm tay che kín lâu lâu lại đỏ lên. Trên trời, máy bay địch vẫn ầm ì. Pháo vẫn nổ cầm canh. Pháo sáng lâu lâu lại bật lên, tỏa ánh sáng xanh xanh ma quái. Ngồi bên anh lúc đó, tôi nghe cứ rờn rợn, ơn ớn. Chợt Đôi khẽ hỏi :
- Bên Lai sao rồi ?
Tôi thận trọng :
- Tạm rồi, anh Đôi. Còn bên anh ?
- Cũng vậy . . . Dẫu sao thì . . . Lai cũng cứ sẵn sàng nghe …
Hình như anh có điều gì muốn nói, mà chẳng thể nói ra. Các cụ gọi đó là linh tính. Linh tính gì vậy anh Đôi ? Anh đừng nói lời trăng trối đó nghe. Trước giờ ra trận hồi hộp đủ rồi, đừng nghe thêm những lời xui xẻo, nghe anh Đôi. May sao, anh đã không nói những lời xui xẻo, tôi về . . .
Nửa đêm. Giấc ngủ không đến được đối với tôi. Ít phút nữa xuất quân rồi. Đã nghe tiếng bước chân rậm rịch. Đã nghe tiếng xe hơi rù rì. Gần lắm rồi. Mai, hay mốt ... Sài Gòn kề bên, mấy chục cây số. Sài Gòn thế nào nhỉ ? Đẹp lắm, chắc vậy . . .
Bỗng nghe một tiếng nổ chát chúa. Tôi giật mình choàng dậy, thằng vô phước nào làm nổ cái gì rồi. Mẹ kiếp. . . Tôi nạt hết anh em trong tiểu đội, song tiểu đội tôi không ai có lỗi gì. Tiểu đoàn trưởng Tùng ào chạy đến, giọng anh lạc đi :
- Lai, Lai đâu rồi ?
Tôi đáp :
- Có tôi !
- Chuyển phương án hai.
- Rõ, chuyển phương án hai. Sao vậy thủ trưởng?
- Thật ngớ ngẩn. Đánh chác mãi rồi mà còn… lựu đạn tụt chốt. Thằng Đôi bị rồi…
-Bị sao, thủ trưởng?
-Tay, mất mẹ nó bàn tay rồi…
Tôi thoáng nhớ đến phút đăm chiêu trầm lặng của Đôi. Không lẽ có sự xui xẻo thực sao? Dù sao trái lựu đạn cũng đã nổ.
*
*    *
Bao nhiêu lâu rồi hôm nay tôi mới được tận mắt nhìn thấy dấu vết của trái lựu đạn nổ đêm đó trên bàn tay của Đôi. Quả thực, anh đã chết trong ký ức của tôi. Sau chiến tranh còn có bao nhiêu việc phải làm. Chúng tôi còn phải trải mấy năm biên giới căng thẳng, lại phải đổ máu, chưa được nghỉ ngơi. Cho đến bây giờ cũng chưa hề được ngơi nghỉ. Không, không tôi hề một chút ghen tỵ. Số phận mỗi con người đã được an bài. Tôi phải binh nghiệp mới tồn tại, nên bây giờ vẫn cứ binh nghiệp. Nhưng còn anh, làm sao anh lại có thể sống ở đây. Dập dìu, đông đúc, xập xình, xập xập xình, chát chát… Chuyện cũ đã sống lại trong tôi với cả mớ những tiếng ồn ào, náo nhiệt đó .
- Thôi chết, này…- Tiếng anh làm tôi thoáng giật mình - Ông Tùng có lẽ phải lên tướng rồi ấy nhỉ? Ông ta có tài đó chớ?
Tôi lắc đầu:
- Anh ấy hy sinh rồi
-Ua? Chà…
- … Ngay trận đánh hôm đó. Một trái một trăm linh năm cưa dứt cả hai chân ảnh. Máu ra nhiều quá, không qua khỏi…
Nét buồn thoáng qua gương mặt Đôi. Anh thu hai tay lại, dấu nó vào giữa hai bắp vế. Có lẽ tôi đã nhắc lại một quá khứ mà anh không hề muốn nhắc, một quá khứ mà có lẽ anh tưởng bằng thời gian tất cả đã được chôn vùi. Tôi ân hận. Nhưng làm gì phải ân hận. Bởi anh, anh bắt sang chuyện khác thật say sưa. Có điều đã chấm dứt mọi cuộc thăm hỏi. Chắc là anh đã cố quên, cố mà quên. Tráo trở đầu đuôi ngủ trong một căn hầm. Dìu nhau đi trong đêm mưa. Ngủ rừng nghe xạc xào gió thổi. Một miếng lương khô, một ngụm nước suối. Một vắt cơm, mấy nhúm chà bông đậm muối. Cõng xác đồng đội trên lưng, nước mắt chảy đầm đìa. Anh thì hỉ hả cười, còn tôi vì anh mà cứ nhớ đến chiến tranh, nhớ đến sự chết chóc của bao nhiêu con người .
-Anh Đôi, anh mời anh Lai đi dùng cơm.
Tiếng nói ngay sau lưng tôi, ngọt, thiệt ngọt. Oanh đang cười với chồng. Một cô gái hoàn toàn. Mặt trái xoan. Lông mày cong, ôm gọn cặp mắt long lanh ướt. Bộ đồ mỏng, cắt khéo, phô một thân hình thon, mềm, khêu gợi.
Đôi đứng dậy kéo tôi:
-Nào, đừng làm vợ mình nó buồn. Cổ dễ khóc lắm đó. Cơm dưa muối ấy mà, có gì dùng nấy nghe. Mai rồi tôi tính… Tôi sẽ rửa bụi chiến trường cho ông…
Một chai Rivalet. Mấy chai soda. Cá lóc chiên. Bò nhúng dấm. Hai cái đùi gà nướng. “Dưa rộm “,”Dưa muối” của Đôi là vậy. Tôi xoa hai chân, ngồi lên bộ ván ở trong một căn phòng khác.
- Bây giờ mỗi thằng làm một cái đã nghe, sau đó ta lai rai. Ơ, sao lại lắc. Tôi có bắt ông uống một lúc hết chai này đâu ?
Cái thứ Rivalet pha soda này uống thực dịu. Nhưng chỉ chốc lát sau nó làm người ta lâng lâng khó tả. Đôi có chút rượu, càng mặn chuyện hơn. Anh ôm cái chai vô lòng, lâu lâu lại gằn nó xuống bộ ván, theo câu chuyện anh kể :
- Sau gần hai tháng nằm điều trị, mình xin chuyển ngành làm chân gác cổng cho một xí nghiệp dược. Rầu đời nhất là giai đoạn đó. An nhằm gì với mấy đồng lương của anh bảo vệ. Mình kiếm cách xoay sở làm ăn ngoài. Vậy mà cũng phải mất hai năm. Hai năm trầy trật. Tối ngày ở công sở, về nhai sái hàm mấy hạt bo bo. Hên sao mình gặp được Oanh. Cậu coi đó, được chớ ? Cổ không đẹp. Nhưng cổ là cứu tinh đời mình. Cổ có ông bác, xưa cũng là lính. Tập kết ngoài Bắc về, làm trưởng phòng tài chính quận này. Thiệt là trời cho. Ổng giúp tụi mình căn nhà này. Nhà tịch thu, cứ ở, nay mai hóa giá, giá bèo ấy mà. Ông thấy lý tưởng không? Mình thử đủ kiểu rồi, nhưng chỉ bán cà phê là nhàn nhất. Mình rút quân, khỏi làm bảo vệ, về phụ cổ bán hàng. Sống lai rai được.
Anh bỗng thở dài cái thượt :
- Nghĩ dẫu sao mình cũng còn hên hơn các ông. Mà hễ nghĩ đến các ông là mình muốn làm một cái gì đó. Mà biết làm gì được. Cà phê bán rẻ hơn người ta một chút. Phục vụ mà. Con nhỏ bán phụ đó, người ta trả một thì mình trả công nó gấp rưỡi. Mình có miếng cơm, dành chút cháo cho người làm, cũng là hoạt động xã hội, chớ sao. Mình nhận thêm cái chân tổ phó dân phố. Cũng hội họp liên miên. Cũng đi hết nhà này nhà khác làm công tác xã hội. Phải không …
 Anh bỗng buông chén đũa, lật đật đứng dậy chạy vô phòng trong. Lục lọi trong đó một hồi, anh chạy ra. Hai tay anh nâng một tờ giấy trắng tinh và đưa cho tôi :
- Ông coi đi…
Đó là giấy khen của Uỷ ban nhân dân quận tặng anh. Một dòng chữ nghiêng nghiêng đập vào mắt tôi :”Đã có thành tích đóng góp ủng hộ bộ đội biên giới Tây Nam”. Chờ cho tôi đọc xong, anh tiếp :
- Mình vẫn giữ biên lai thu tiền. Số “ không một”. Ông nhớ nghen, số “ không một”, tức là mình là người đầu tiên. Chớ sao. Người dẫn đầu, để nhiều người khác làm theo. Mấy anh hủ tiếu, phở, cà phê, cắt tóc …. làm theo hết, nhưng vẫn dành “không một” cho mình, ông hiểu chớ ?
Anh giơ ngón tay cái còn lại ở bàn tay phải ra trước mặt tôi và ha hả cười. Ngón tay như chọc vào mắt tôi. Có lẽ thấy tôi quay vội mặt đi, anh rụt ngay bàn tay về dấu nó vào phía sau chai rượu. Anh hỏi tôi :
- Nè, cậu còn nhớ cái tay nhà báo viết về cậu hồi đó chớ ?
- Nhớ sao nổi anh, lâu lắm rồi. Vả lại, nhà báo ấy mà, có một họ viết thành…
Anh cướp lời tôi:
- Thành mười cũng được, miễn có lợi cho cách mạng là được chớ gì? Chuyện thực nó cứ trụi lui lủi, phải nêm giấm, ớt, hành tiêu vô mới được chớ. Chà tiếc quá hén. Phải chi ông nhớ được, ông mời ảnh giúp mình…
-Thưa không, người viết là một cô gái…
-Cô gái cũng được chớ sao. Ông mời cổ giúp mình. Mình kể cái chuyện đóng góp ”không một” này cho cổ nghe, sao cũng được một bài báo hay hết ý. Ông tính coi, ly cà phê lời được mấy đồng, mà ngần ấy tiền mình đóng góp, cả trăm, cả ngàn ly cà phê chớ bộ. Có thể chạy cái ”tít” ”một hành động cao cả” được lắm chớ ? Ông tính, phát động cả nước làm theo, thành cái quỹ cho biên giới lớn lắm đó. Và… mình vẫn cứ là ”không một”, không một, ông hiểu không. Tiếc quá hén, ông lại quên mất cổ rồi…
Có thể là tiếc cho anh thiệt. Sao mấy ông, mấy bà nhà báo chẳng tinh nhậy chút nào. Thiệt thòi cho anh quá. Anh uể oải đứng dậy bật công tắc đèn. Trời tối xuống rồi. Chiếc máy của anh đã chuyển nhạc, những bản nhạc ủ ê dành cho các cặp trai gái vào buổi tối. Đèn ngoài đường đỏ quạch. Đèn ngoài chỗ bán hàng nhấp nhá, sáng, tối. Đèn phòng kế tím ngắt, hắt bóng vào căn phòng chúng tôi đang ngồi. Còn phòng này, ánh nê-ông xanh. Giữa một thứ ánh sáng loạn xà ngầu như vậy, gương mặt Đôi bỗng trở nên kỳ quái khác thường. Rượu làm đỏ gắt, ánh đèn làm tái ngắt, xám xịt ở những vệt lõm trên mặt. Sau cái phút tiếc nuối khi hồi, anh bỗng ít lời hẳn đi. Như vở kịch đã cởi xong cái gút căng thẳng, đáng ra phải hạ màn, nhưng sân khấu cứ nhập nhằng, không dứt, khiến cho cả người diễn và người xem đều nhạt nhẽo. May mắn sao, bỗng có tiếng Oanh gọi Đôi :
- Anh ơi, ông tổ trưởng báo họp dân phố nè…
Đôi chép miệng :
- Ôi dào, em đi họp đi, anh còn … tiếp Lai mà….
- Không được, ổng mời chính anh phải đi kìa. Nghe đâu có cuộc quyên góp gì đó, có anh nói vô mới được…
Đôi nhún vai như muốn bảo: thế đấy, “không một”mà. Anh dặn tôi:
-Mình tạm dừng đi ông. Tôi đi một lát về. Ông cứ nghỉ đi. Tôi chờ chuyện của ông. Từ chiều tới giờ toàn tôi nói không hà …
*
*      *
Oanh vợ Đôi, thực chu đáo. Cô thu xếp mùng mền chiếu gối cho tôi nằm nghỉ ngay trên bộ ván mới ngồi nhậu. Cô đặt lên đầu nằm một chiếc đèn nhỏ, mấy cuốn sách loại kiếm hiệp, không quên đặt ở chiếc bàn nhỏ kế bên một bộ đồ trà. Cô khẽ cúi đầu chào tôi rồi ra ngoài tiệm.
Buổi tối, ngoài đó đã đông khách. Đủ mọi thứ khách. Láo nháo gọi cà phê, gọi thuốc. Hí hố cười, tranh nhau nói… Một hỗn độn tiếng động, những tiếng động của con người đập vào tai tôi. Đủ mọi chuyện trên đời. Làm ăn, bồ bịch, gây lộn, thách thức, cá độ…
Tôi không sao ngủ được giữa cái mớ hỗn độn đó. Tôi lâng lâng như đang nằm trôi trên một chiếc ghe, chiếc ghe bồng bềnh giữa cơn gió thét gào. Bỗng nhiên tôi lại thấy ân hận. Giá đừng ngồi lai rai với Đôi, biết đâu lúc này tôi có thể tìm được một chỗ yên tĩnh hơn. Bỗng nhớ anh em ngoài biên giới quá. Họ làm gì có những phút rảnh rang như thế này. Cuộc liên hoan ồn ào nhất là lúc ai đó nhận được thư nhà. Xúm xít, rối rít. Có lúc cùng cười ha hả, có lúc cùng im lặng thẫn thờ. Mắc bận bao nhiêu là công chuyện. Đào hầm, sửa hào, tuần tra, săn lùng biệt kích. Toàn những việc của lính, mà việc của lính thì có bao giờ hết được. Kinh nghiệm của chiến tranh biên giới với đám Pôn-pốt, cái đám lính áo đen ẩn hiện như ma trơi, ào đến, ào đi cho thấy rằng, đã là lính ở biên giới thì chẳng có lúc nào được rảnh rang. Cũng có lúc được ít cà phê hạt. Vậy là bỏ vô nồi quân dụng, khuấy đảo, hít hà. Cái nón sắt giã trậm truội. Túm vào tấm vải mùng, nấu như nấu cháo. Lát rồi cũng xớt ra, nhấm nháp, nắc nỏm khen, khói thuốc rê toả ra khét lẹt. Những cuộc thưởng thức hiếm hoi đó nhiều lúc cũng bị chia năm sẻ bẩy bởi có chuyện đột biến trên đường biên. Vậy ở đây họ thữa thãi thời gian quá. Thời gian được họ tiêu xài như những đồng bạc lẻ của những người đàn ông. Có thì vo viên vo vúi lại, nhét bừa vào túi quần túi áo. Tiện đâu ném đó; cho trẻ nít, cho ăn mày, ném vào ô kéo, hộc bàn, nhiều khi bị vò nhầu trong những chiếc quần, chiếc áo mang đi giặt. Tôi cồn cào nhớ anh em đồng đội, chợt nhận ra mình thật vô lý khi không leo lên chiếc xe đò chật ních người, và, lại càng vô lý hơn khi tôi nằm lại nhà Đôi. Tôi nhắm mắt gọi tìm giấc ngủ. Mãi, rồi cũng thiu thiu…
-Lai, ngủ rồi hả ?
Tiếng Đôi giật gọi tôi. Tôi nghe thấy, nhưng nằm im, giả đò ngủ say như chết. Đôi bỏ ra ngoài. Lát sau, tiếng Đôi lại vang lên:
-Lấy cho tôi ly sữa ca cao.
Tiếng Oanh :
- Họp có chuyện chi không anh ?
- Có, có chuyện cô ngu.
-Ủa, chi kỳ vậy, anh ?
- Có chi mà kỳ? Mẹ nó chớ. Hoàn cảnh đất nước còn khó khăn. Dễ người ta không biết phải chờ nó dậy. Khó đâu bằng hồi chiến tranh. Nằm hầm, nằm hố đây còn cóc sợ, nữa là bây giờ. Cô coi bàn tay tôi đây nè, có đáng được ưu tiên không ? Đóng góp bao nhiêu cũng vậy thôi. Từ nay tôi cấm cô, không được đóng góp bất cứ cái gì nữa nghe. Chưa có con, khỏi đóng cho giáo dục, đóng ủng hộ bộ đội, khỏi, tôi hy sinh cống hiến đủ rồi. Mồ côi tàn tật, ai đó, kệ người ta, mấy đồng bạc của mình không cứu được người chết đâu.
Tiếng Oanh:
- Nhưng có chuyện chi vậy ? Em nghe không kịp…
Tôi không còn muốn nghe bất cứ một lời nào nữa. Mắt tôi nhắm nghiền lại. Tôi đút hai ngón tay vào lỗ tai. Bây giờ tôi lại mong ở ngoài kia người ta nói chuyện to hơn, ồn ào hơn, để khỏi phải nghe những lời Đôi nói.
Tôi nằm bất động.
Đôi đến bên tôi. Tôi biết, anh sẽ nằm bên tôi đêm nay. Chắc anh còn muốn chuyện trò tiếp. Có một cái gì đó anh chưa thể nói ra. Lúc chiều anh ráng lấn lướt bằng những chuyện không đâu vào đâu. Những chuyện gì đấy, anh Đôi. Giữa tôi và anh đã có những cách nghĩ khác nhau quá rồi. Phải chăng đời lính đã buộc tôi có những suy nghĩ khô khan và giản đơn hơn. Tiếng anh:
- Tay này xem ra cũng khá. Mới hôm nào làm tiểu đội trưởng chưa vững, nay cũng có cái đại úy rồi. Tính toán cũng được đó chớ…
Một cái gì đó nhói lên trong tôi. Trời đất ơi, tính toán cái gì đây, tính toán cái gì đây chớ anh Đôi ? Ở những đêm hành quân nhược người và cay xè con mắt ? Ở những trận đánh mà trước đó không biết ngày mai mình còn hai mất ? Ở những người vĩnh viễn ra đi ? Ở những người mẹ không còn nước mắt khóc con ? Tính toán gì, tính toán cái gì đây? Tôi bật dậy :
- Anh Đôi, tôi phải đi đây.
Đôi trợn mắt nhìn tôi:
- Ông điên hả? Đi đâu vào giờ này?
- Nhất định tôi phải đi thôi, anh Đôi à. Tôi không thể nào ở lại được …
Tôi vơ vội mấy thứ của tôi. Mà có gì đâu, một chiếc ba lô con cóc đã đi gần như suốt đời lính, mầu đã bạc phếch. Tôi bắt tay Đôi. Bàn tay chỉ còn ngón trỏ và ngón cái ấy lạnh ngắt. Vết sẹo nơi đó nham nhám cọ vào tay tôi, một lần nữa làm tôi gai người.
Ra đến đường, vẫn đông đúc thế, nhưng dẫu sao cũng thoáng đãng hơn ở trong nhà.
Đôi lẽo đẽo đi theo để tiễn đưa tôi. Buộc lòng tôi phải quay lại:
- Về đi anh Đôi. Tôi đi một mình được mà.
Đôi gật đầu và nói rất khẽ, đủ để tôi nghe:
- Lai. Mình cảm ơn cậu còn sống ? Nếu quả thực hôm đó… cái hôm thực hiện phương án hai đó… Cậu có làm sao, thì… Chiều nay, lúc nhìn thấy cậu… mình sợ. Đến lúc, thấy cậu đúng là bằng xương, bằng thịt, mình mới tĩnh tâm được. Lai, từ nay mình yên tâm sống rồi…
Không hiểu sao, tôi vẫn muốn nói với Đôi một câu gì đó. Tôi thốt lên:
- Giá ngày đó, trái lựu đạn đừng nổ.
Đôi giơ tay như muốn bịt miệng tôi lại, nhưng tôi vẫn còn kịp nói :
- Trước lúc anh Tùng hy sinh, ảnh có nói : mình tiếc cho thằng Đôi…
Đôi mắt một mí của Đôi có lẽ chưa bao giờ mở to như thế. Nhưng dại hẳn đi, như mắt người chết.
Một đoàn xe ào qua. Xe lính. Tôi giơ tay vẫy. Một chiếc dừng lại. Anh em kéo tôi lên xe. Xe chạy, tôi ngoái lại, thấy Đôi thấp lụp cụt bên cây cột đèn đường cao vống.
Nhất định đêm nay, tôi sẽ lên được biên giới, và tôi sẽ được đón tết với bạn bè cùng đơn vị. Ngày mai tết rồi./.    

[Đầu trang]
Các tin mới
  Truyện ngắn: "Trạng Me đè trạng Ngọt"
  Chùm truyện ngắn "Bài ký núi Phấp Phỏng"
  Thói ngậm tăm
Các tin đã đưa
  .Cho một ngày mai khác đi
  Sống chậm
  Cầu Vồng
  Hai người đàn bà
  Thân phận cu li
  Đêm tân hôn
  Đường về băng giá
  Thần nữ đi chân không
  Những trang báo ma quái
  Gã nhà quê
  Dòng nước
  Tai nạn
  Pythagore
  AQ tìm vợ
  Ba quả trứng ung
  Tạm biệt mẹ
  Những cây sầu trên đỉnh Puvan
  Trò đùa
  Tịnh thủy
  "Khi tôi 64"
Tin nhiều người xem
Xem tất cả
Copyright © by ViVaFilm.org. All rights reserved - Terms of Service | Policy | Help
To learn more about how we use your information, See our Privacy Policy