|
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Phim về chiến tranh của Việt Nam tủn mủn và lạc hậu
Nguyễn Văn Học (thực hiện)
Nhà văn Sương Nguyệt Minh có tiếng trong làng văn bởi những truyện ngắn bề bộn chi tiết, nhiều yếu tố lung linh huyền ảo. Ông đã có ba truyện ngắn được chuyển thể thành phim. Vừa rồi, Hãng phim Quân đội làm tiếp một bộ phim Mười ba bến nước, được chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của ông. Chúng tôi có cuộc trao đổi với nhà văn về bộ phim này.
PV: Thưa nhà văn, khi “đứa con tinh thần” của mình từ trang sách lên phim, khi xem, ông có ưng ý với những gì mà hãng phim Quân đội đã làm?
Nhà văn Sương Nguyệt Minh(SNM): Truyện tôi viết có nhiều yếu tố huyền ảo, bối cảnh có sông nước, có làng quê cũ kỹ nghèo nàn sau giải phóng, nên tìm được một nơi như thế là rất khó. Họ đã phải về Ninh Bình quê tôi tìm bối cảnh nhưng không được. Đoàn lại vất vả đi tìm bến sông khác, mà đích thân ông giám đốc đi tìm. Điều đó cho thấy sự nghiêm túc của đoàn. Tôi vừa ý chứ thực ra chưa ưng ý. Vì tôi hiểu, để làm được những chi tiết viết trong truyện thì kinh phí phải nhiều, mới có thể dựng được những cảnh hoành tráng, cảnh ma quái.
Tôi muốn phim phải kỳ ảo, huyền diệu hơn. Yếu tố folkore phải thấm đẫm hơn. Ví dụ: Tôi hình dung phim có những đại cảnh dòng sông mênh mông, có 1 vạn cái bè chuối vây quanh cái thuyền không cho người đàn bà sang sông. Hoặc 50 cái bè chuối chở 50 người đàn bà chửa hoang bị gọt đầu bôi vôi, trôi sống. Hoặc những cái thuyền gỗ chở chum, vại đậu chềnh ềnh ở bến sông bán cho người mua về chôn những cái quái thai vừa đẻ...trong sương mù bay thấp thoáng. Hoặc cái quái thai bỏ bè chuối trôi sông, đẩy ra thì nó cứ trôi vào...
PV: Truyện ngắn Mười ba bên nước của ông nói về hậu chiến và những nhức nhối của thân phận người bị nhiễm chất độc da cam. Và nếu không phải là người có kinh nghiệm thì rất khó làm. Đạo diễn của phim Mười ba bến nước là một đạo diễn trẻ. Đặng Thái Huyền sinh năm 1980, chưa từng nghe thấy tiếng súng trong chiến tranh, nhưng dường như Huyền đã làm rất tốt?
SNM: Đúng. Đạo diễn Đặng Thái Huyền chưa một ngày cầm súng. Cô ấy nhìn chiến tranh bằng cái nhìn của người trẻ. Một bộ phim không có tiếng súng nhưng người ta vẫn thấy cái nhức nhối sau khi người lính từ chiến trường trở về. Tôi thấy Huyền là người có năng lực, biết chọn ý tưởng để đẩy phim lên. Tôi là người đánh giá cao vốn sống nhưng cũng tin tưởng ở sự cảm thụ văn chương của những người trẻ và nhận thấy rằng, dù chưa từng trải, nhưng vẫn có người làm tốt. Trong bốn cái truyện được chuyển thể của tôi thì cái này vững nhất.
PV: Theo nhà văn, hạn chế của phim Mười ba bến nước ở chỗ nào?
SNM: Hạn chế của phim là những cảnh quái thai, dị dạng… đau đớn do chất độc da cam chưa được đẩy đến tận cùng, nên nó mất đi sự dằn vặt, ám ảnh.
Cái điều tôi muốn từ truyện ngắn Mười ba bến nước lên điện ảnh là vừa giữ được cái hiện thực nghiệt ngã nỗi đau thân phận người đàn bà thời hậu chiến mà vẫn trộn lẫn hài hòa được cái lung linh huyền ảo… thì phim lại chưa làm được. Có lẽ do kinh phí, hoặc đạo diễn chỉ muốn chọn một góc nhìn hiện thực?
PV: Theo dõi phim, các diễn viên tham gia đóng phim phải nói là khá đạt. Họ đã phần nào làm nên sự thành công của bộ phim. Nhưng theo một số người, để chọn diễn viên vào vai loại phim này ngay nay tương đối khó. Ông thấy sao ạ?
SNM: Hai diễn viên đạt nhất là Trung Hiếu trong vai Tào và Hoàng Lan trong vai Sao. Thực ra, trước khi đóng phim thì họ đã đọc truyện ngắn này của tôi rồi. Vậy trước khi diễn các diễn viên đã phần nào nắm được cái thần thái của tác phẩm. Và như thế họ khiến người xem cảm động khi nhập vai tốt.
PV: Theo nhà văn, làm phim từ các tác phẩm văn học thường có khó khăn gì? Vì từ tác phẩm văn học đến điện ảnh, tác phẩm trải qua một lần khúc xạ?
SNM: Làm phim khác với viết văn nhiều. Văn là do người viết tưởng tượng ra, còn phim ảnh là đạo diễn bắt người xem phải công nhận nó như vậy. Tác phẩm văn học càng hay thì khi làm phim càng khó. Tác phẩm càng kinh điển thì làm phim càng khó. Trên thế giới chỉ vài phim là giữa phim và truyện hay như nhau thôi.
Việc làm phim này nếu có sự kết hợp của nhà văn viết tác phẩm và đạo diễn thì rất tốt. Nhưng hai cái ông này luôn không chịu nghe nhau bao giờ.
PV: Ông đánh giá thế nào về những bộ phim “có tiếng súng” của Việt Nam hiện nay?
SNM: Những bộ phim đó tôi xem chẳng thể thích được. Người ta làm phim về chiến tranh mà chỉ có vài phát đại bác ùng oàng, mấy cái xe tăng. Nhưng xem phim của nước ngoài, phim về chiến tranh của họ có lửa ngút trời, khói mù mịt. Xe tăng kéo dài vài cây số, người đông như muỗi. Nó phải hoành tráng thế chứ nên người xem bị chinh phục ngay từ những hình ảnh đó. Còn phim của ta…Luôn tủn mủn, lạc hậu và nghèo nàn. Vài đám lửa khói mỏng mảnh như hun chuột đồng, chiến hào thì mới vuông thành sắc cạnh như thao trường, quần áo chiến binh mà mới tinh như đi duyệt bình…; không thấy cái lở loét, nham nhở, chết chóc, khốc liệt của chiến tranh…Ấy là phim chiến tranh của Việt Nam còn nặng về phản ánh sự kiện bề nổi, ít đi sâu vào thế giới nội tâm con người thời chiến.
Nếu ta không có kinh phí, không có điều kiện thì đừng làm phim về chiến tranh nữa, mà có làm thì làm kiểu khác đi. Còn cứ cố, thì kém may mắn nhất là người xem.
PV: Có nghĩa ông ủng hộ cách mà Đặng Thái Huyền làm? Một đạo diễn trẻ làm phim về chiến tranh?
SNM: Đúng. Bây giờ chúng ta nên làm những bộ phim xoáy sâu vào những số phận sau chiến tranh, những nhức nhối còn hoành hành mãi đời sống con người, đi vào tâm lý con người và hướng đến cái nhân văn cao cả. Phim Mười ba bến nước không hề có đại bác, xe tăng, bom đạn ùng oàng, chiến hào lở loét, khói lửa mịt mù. Cũng không có bất cứ một cái chết, một trường hợp bị thương nào ở chiến trường. Vậy mà, nó vẫn cứ ra phim chiến tranh. Đặng Thái Huyền đi sâu vào thân phận con người, nhất là số phận người đàn bà với những được mất trong chiến tranh bằng tầm nhìn nhân văn sâu sắc... cũng là một cách.
PV: Vâng, xin cảm ơn nhà văn. Chúc ông có thêm nhiều những tác phẩm giá trị.
Nguồn : Tổ quốc
|